Sức ép thương mại Mỹ: Lối đi nào cho Ấn Độ?
Chính sách thuế quan của Mỹ đang trải qua sự chuyển dịch cấu trúc sâu sắc, biến công cụ bảo hộ tạm thời thành chiến lược địa chính trị dài hạn. Trước thực tế này, Ấn Độ cần kiên định tự chủ chính sách thay vì nhượng bộ đơn phương.
Thương mại quốc tế đang chứng kiến bước ngoặt căn bản trong chính sách của Mỹ. Từng dựa chủ yếu vào quyền hành pháp của Tổng thống Donald Trump, Washington hiện củng cố chiến lược thuế quan thông qua con đường lập pháp. Việc Thượng viện Mỹ bỏ phiếu 86-12 thông qua dự luật trừng phạt Nga cho phép áp thuế tới 100% đối với các quốc gia mua dầu của Nga, gồm Ấn Độ, là bằng chứng rõ nét. Thuế quan đã trở thành công cụ chính sách kinh tế và đối ngoại dài hạn được cả hai đảng bảo trợ.
Sự chuyển dịch này thể hiện qua cách Mỹ linh hoạt thay đổi cơ sở pháp lý để duy trì rào cản thương mại. Trước khi thuế quan tạm thời theo Mục 122 hết hạn, USTR đã lập tức thay thế bằng Mục 301 áp lên 60 nền kinh tế với cáo buộc về lao động cưỡng bức. Dù Ấn Độ đã cấm nhập khẩu hàng hóa liên quan và Mỹ không đưa ra bằng chứng thuyết phục, New Delhi vẫn chịu thuế 10%. Điều này cho thấy duy trì thuế cao mới là mục tiêu cốt lõi, còn căn cứ pháp lý chỉ là công cụ hỗ trợ.
Hệ quả là một hệ thống thuế quan Mỹ ngày càng mang tính vĩnh viễn, đa tầng. Áo phông cotton xuất khẩu sang Mỹ chịu thuế 26,5% (16,5% MFN cộng 10% Mục 301), phụ tùng ô tô chịu 27,5% (2,5% MFN cộng 25% Mục 232). Tệ hơn, Washington dự kiến áp thuế 100% vào năm 2028 và 200% vào năm 2029 đối với dược phẩm giá rẻ (generics). Đây là đòn đánh trực diện vào Ấn Độ, bên cung cấp gần 50% đơn thuốc generics tại Mỹ và dành 38% lượng dược phẩm xuất khẩu cho thị trường này.
Không dừng ở thương mại thuần túy, Mỹ còn dùng Mục 301 để can thiệp vào chính sách nội địa của đối tác. Tiền lệ điều tra Brazil vào tháng 6/2026 nhắm vào hệ thống Pix, thương mại số và bảo vệ môi trường là lời cảnh báo nghiêm trọng. Ấn Độ nằm trong tầm ngắm tương tự khi Báo cáo Ước tính Thương mại Quốc gia (NTE) của Mỹ liên tục chỉ trích hệ thống UPI, quy định lưu trữ dữ liệu, sở hữu trí tuệ và mua sắm công của New Delhi.
Trước áp lực gia tăng, chiến lược nhượng bộ đơn phương của Ấn Độ bộc lộ rõ sự bất cập. Việc New Delhi hạ thuế rượu bourbon, xe máy cao cấp, sản phẩm ICT, thiết bị y tế hay nới lỏng quy định cho e-commerce Mỹ không giúp giảm bớt trừng phạt thuế quan, mà còn làm suy yếu vị thế đàm phán. Trong lý thuyết đàm phán thương mại, trao đi lợi ích mà không nhận lại sự đền đáp tương xứng chỉ làm mất thế cân bằng.
Tình thế này đặt Hiệp định Thương mại Song phương (BTA) Mỹ - Ấn vào bế tắc. Dù giới chức tuyên bố hiệp định đã hoàn tất 99%, nhượng bộ lớn nhất của Mỹ, tức là giảm thuế từ 25% xuống 18% theo tuyên bố chung ngày 6/2/2026, đã phá sản sau khi Tòa án Tối cao Mỹ bãi bỏ chế độ thuế quan đối ứng vào ngày 20/2/2026. Khi Mỹ không còn lợi ích tương đương để đánh đổi, Ấn Độ không có lý do để vội vã ký kết một thỏa thuận bất lợi.
Về mặt chiến lược, Ấn Độ có lợi thế lớn: New Delhi không phụ thuộc vào chiếc ô an ninh của Washington, nên chịu ít áp lực hơn trong việc chấp nhận thỏa thuận bất bình đẳng. Thực tế, ngay cả các đồng minh có hiệp định thương mại với Mỹ như EU, Nhật Bản hay Hàn Quốc vẫn liên tục trở thành mục tiêu của các cuộc điều tra Mục 301.
Thay vì đàm phán dưới áp lực, Ấn Độ nên kiên định bảo vệ chủ quyền chính sách, nâng cao năng lực sản xuất nội địa và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Thiệt hại ngắn hạn có thể bù đắp, nhưng nhượng bộ thể chế dài hạn sẽ làm tổn hại nghiêm trọng nền kinh tế. Một đối tác bền vững phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng, chứ không thể đứng trên nền móng bấp bênh của một chế độ thuế quan tùy hứng.
- Share
- Copy
- Comment( 0 )
Cùng chuyên mục
Ấn Độ-Trung Quốc nối lại thương mại biên giới sau 6 năm gián đoạn
Kinh tế 09:22 01-08-2026
ASEAN-Ấn Độ: Bắt tay làm chủ công nghệ, AI và chuyển đổi số
Kinh tế 09:05 01-08-2026
Phong trào con gián ở Ấn Độ qua góc nhìn của Gen Z Việt Nam
Kinh tế 10:00 31-07-2026