Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

banner-vi banner-vi

Ấn Độ giữa chiến lược tự chủ và hội nhập phương Tây

Ấn Độ giữa chiến lược tự chủ và hội nhập phương Tây

Việc Ấn Độ thường xuyên hiện diện tại G7 phản ánh quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc với phương Tây. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của New Delhi không chỉ nằm ở đối ngoại mà còn ở năng lực chuyển hóa nội lực của quốc gia.

10:00 17-06-2026 Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Một nghịch lý trung tâm của chính sách đối ngoại Ấn Độ đương đại là trong khi nhiều tiếng nói tại Delhi vẫn xem chiến lược tự chủ và quan hệ đối tác với phương Tây như hai lựa chọn khó dung hòa, thì thực tiễn quốc tế lại gợi ý điều ngược lại. Vấn đề không phải là phải chọn bên nào, mà là phải xây dựng năng lực đủ mạnh để có thể vừa hợp tác sâu với phương Tây, vừa bảo toàn không gian hành động chiến lược của mình.

Sự hiện diện thường xuyên của Thủ tướng Narendra Modi tại G7 phản ánh một thực tế cơ bản: Ấn Độ không còn là một “người ngoài cuộc” trong trật tự kinh tế - chính trị do phương Tây dẫn dắt. Kể từ cải cách kinh tế vào đầu thập niên 1990, nền kinh tế Ấn Độ đã gắn kết ngày càng chặt chẽ với các trung tâm tư bản phát triển. G7 hiện là điểm đến chủ yếu của hàng hóa xuất khẩu, dịch vụ xuất khẩu, cũng như dòng di chuyển của chuyên gia và sinh viên Ấn Độ. Nói cách khác, quá trình đa dạng hóa của New Delhi ngày càng diễn ra “bên trong phương Tây” hơn là giữa phương Tây và BRICS. Đây là một chuyển dịch có ý nghĩa chiến lược, Ấn Độ đang tìm kiếm mở rộng dư địa phát triển thông qua hội nhập có chọn lọc, thay vì đối đầu hệ thống.

Tuy vậy, thách thức của Ấn Độ hôm nay không chỉ đến từ bên ngoài mà còn từ sự biến đổi nhanh chóng ngay trong phương Tây. Thứ nhất là xu hướng đơn phương hóa của Mỹ dưới thời Trump, khi lợi ích quốc gia được diễn giải theo tinh thần “Nước Mỹ trên hết”, làm gia tăng sức ép lên các đồng minh và làm lung lay tính dự báo của trật tự xuyên Đại Tây Dương. Thứ hai là sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản công nghệ Mỹ với quy mô vốn, đổi mới sáng tạo và năng lực thị trường vượt trội. Điều đó khiến Mỹ không hề suy yếu một cách tuyến tính như nhiều nhận định đơn giản hóa, mà trái lại vẫn duy trì vị thế trung tâm trong cấu trúc quyền lực kinh tế - công nghệ toàn cầu. Thứ ba là sự tái định nghĩa quan hệ của Mỹ với Nga, Trung Quốc, Pakistan và Trung Đông, làm gia tăng tính bất định đối với chiến lược cân bằng của Ấn Độ.

Trong bối cảnh ấy, chính sách đối ngoại Ấn Độ không thể chỉ dựa vào những khẩu hiệu về tự chủ chiến lược. Tự chủ không phải là tách khỏi các trung tâm quyền lực, mà là năng lực lựa chọn có tính toán trong một môi trường cạnh tranh. Vì vậy, ngoại giao Ấn Độ cần đi cùng với tái cấu trúc kinh tế, hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng và thúc đẩy hệ sinh thái công nghệ trong nước. Không có nền tảng nội lực ấy, mọi tuyên ngôn về đa cực hay chiến lược cân bằng đều sẽ thiếu trọng lượng.

So với Trung Quốc, có thể thấy sự khác biệt giữa mô hình Ấn Độ và mô hình Trung Quốc. Trung Quốc không chỉ tăng trưởng nhanh hơn mà còn biến quá trình hội nhập với phương Tây thành một đòn bẩy để tích lũy sức mạnh quốc gia. Nước này đã kết hợp được hai mục tiêu tưởng như mâu thuẫn: thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và đồng thời tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ, khoa học và sản xuất. Chính điều đó cho phép Trung Quốc vừa là đối tác kinh tế của phương Tây, vừa là đối thủ chiến lược của họ. Ở đây, gợi mở chính là nhận thức rằng hội nhập quốc tế chỉ có ý nghĩa khi phục vụ cho quá trình chuyển hóa nội lực.

Vì thế, câu hỏi cốt lõi đối với Ấn Độ không phải là liệu có nên hợp tác với phương Tây hay không, mà là làm thế nào để biến hợp tác ấy thành một đòn bẩy cho sự tự cường của quốc gia. Nếu không giải quyết được bài toán phát triển trong nước, chiến lược tự chủ sẽ dễ rơi vào trạng thái phòng thủ tâm lý; còn nếu biết gắn kết tự chủ với hiện đại hóa, Ấn Độ có thể tạo ra một mô hình đối ngoại thực dụng hơn, ổn định hơn và có chiều sâu hơn.

 

Viết bình luận

Bình luận

Cùng chuyên mục