Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

banner-vi banner-vi

Tương lai của Luật Biển

Tương lai của Luật Biển

09:00 27-07-2026 Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Trong bộ phim tài liệu đặc sắc Đại dương (Ocean), David Attenborough từng chia sẻ rằng, phải mất một thời gian dài trong suốt 99 năm cuộc đời, ông mới thấu hiểu được chân lý: đối với sự sinh tồn của hành tinh chúng ta, đại dương đóng vai trò quan trọng hơn cả đất liền.

Trong suốt bốn tháng qua (từ tháng 2/2026 đến tháng 7/2026), khi chứng kiến Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Benjamin Netanyahu đưa quân đội tham chiến chống lại Iran, rất ít người trong chúng ta có cái nhìn toàn diện về biển và đại dương. Hầu hết chỉ chú ý đến vấn đề cụ thể tại một vùng biển nhỏ hẹp: Eo biển Hormuz, cửa ngõ kết nối từ Ấn Độ Dương vào Vịnh Iran.

Tổng thống Trump thể hiện thái độ xem nhẹ trước nỗ lực của Liên Hợp Quốc (LHQ) nhằm đảm bảo tiến trình phê chuẩn toàn cầu đối với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển - một hiệp ước vốn đã được đàm phán vô cùng kỹ lưỡng - đến mức ông thậm chí không hề cử bất kỳ phái đoàn nào tham dự các hội nghị liên quan của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, vị tổng thống tiền nhiệm thuộc Đảng Cộng hòa của ông Trump là George W. Bush từng tuyên bố rằng, nếu đắc cử, ông sẽ thúc đẩy việc phê chuẩn Công ước này. Dù vậy, ông đã không bao giờ thực hiện được do bị áp đảo bởi số phiếu của phe theo chủ nghĩa biệt lập trong nội bộ Đảng Cộng hòa. Kịch bản tương tự cũng lặp lại dưới thời Tổng thống Barack Obama. Ngoại trưởng của ông khi đó là bà Hillary Clinton, với sự tháp tùng của giới chức quân sự cấp cao, đã tuyên bố rằng chính quyền sẽ lập tức gây áp lực buộc Quốc hội phải tiến hành bỏ phiếu phê chuẩn hiệp ước vốn đã bị trì hoãn từ lâu này. Tuy nhiên, nỗ lực của bà cũng thất bại.

Từ tự do đến khuôn khổ pháp lý

Cho đến trước khi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển được phác thảo, biển và đại dương quanh chúng ta - chiếm tới hai phần ba diện tích hành tinh - về cơ bản không có khuôn khổ pháp lý nào quản lý. Cách đây 350 năm trước, khi nhà luật học người Hà Lan Hugo Grotius khởi xướng học thuyết “tự do biển cả”, việc để vạn vật thuận theo lẽ tự nhiên tưởng chừng là một ý tưởng xuất chúng: “Đừng để bất kỳ cá nhân nào chiếm hữu những gì thuộc về toàn nhân loại.”

Thế nhưng, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của những tàu chở dầu trọng tải lớn, của các thảm họa tràn dầu hủy hoại toàn bộ vùng duyên hải, của sự suy giảm nghiêm trọng sản lượng đánh bắt thủy sản, của những tranh chấp về quyền đi lại (như trường hợp Eo biển Hormuz), và có lẽ là sự khởi đầu của một cơn sốt khai thác khoáng sản và nguồn gen dưới đáy biển sâu.

Sau 26 năm đàm phán với sự tham gia tích cực của Hoa Kỳ, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển đã chính thức có hiệu lực vào năm 1994. Thậm chí ngay cả khi không có sự tham gia của Hoa Kỳ, vẫn có đủ số lượng quốc gia phê chuẩn để công ước này được đưa vào thực thi. Đây là một cột mốc mang tính lịch sử trong tiến trình về sự cạnh tranh giữa các quốc gia - dân tộc cũng như trong hoạt động khai thác thương mại.

Công ước này trao cho thế giới cơ hội để thiết lập một cơ chế phân bổ công bằng đối với di sản chung của nhân loại trên biển. Nó sở hữu tiềm năng thiết lập các tiền lệ pháp lý có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác, chẳng hạn như việc phân chia khu vực Nam Cực giàu trữ lượng dầu mỏ và Bắc Băng Dương - những khu vực hiện đang tranh chấp bởi nhiều quốc gia bao gồm Đan Mạch, Hoa Kỳ, Canada và Nga - cũng như việc phân định các đường biên giới trong tương lai trên Mặt Trăng, các hành tinh và không gian vũ trụ. Đó chính là lý do vì sao nhiều học giả nhận định rằng, theo cách riêng của mình, Công ước này đóng vai trò như một bản Đại Hiến chương (Magna Carta) của thế kỷ 21.

Hồ sơ chính sách đầy mâu thuẫn của Hoa Kỳ 

Chính Tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa Richard Nixon là người đầu tiên đưa ra khái niệm mô tả biển cả là “di sản chung của nhân loại”. Thái độ của Nixon khi đó là một sự ngoại lệ, bởi lẽ lập trường của Hoa Kỳ đối với luật pháp quốc tế từ lâu vẫn luôn mơ hồ và thiếu tính nhất quán.

Tổng thống Harry Truman là người đầu tiên thách thức những quan niệm phổ biến đang thịnh hành thời bấy giờ do Grotius khởi xướng. Năm 1945, ông tuyên bố quyền tài phán của Hoa Kỳ đối với tài nguyên đáy biển trên thềm lục địa. Ba năm sau, Chile, Peru và Ecuador đã gia tăng căng thẳng khi đưa ra yêu sách về vùng biển rộng 20 hải lý và bắt giữ các tàu đánh bắt cá ngừ của Hoa Kỳ hoạt động trong vùng nước của họ. Mối lo ngại khi đó là các quốc gia có thể tiến xa hơn và đơn phương tuyên bố vùng lãnh hải độc quyền rộng 200 hải lý.

Chính nỗ lực nhằm tìm kiếm một giải pháp dung hòa giữa các quyền tài phán ven biển mới nổi này với các quyền tự do truyền thống trên biển cả là nguyên nhân dẫn đến việc triệu tập Hội nghị Liên hợp quốc về Luật Biển. Kết quả mang lại là một trong những văn kiện đàm phán vĩ đại nhất mọi thời đại - toàn diện hơn, chi tiết hơn và đòi hỏi sự chia sẻ chủ quyền ở mức độ cao hơn nhiều so với văn kiện thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế. Công ước này cân bằng được lợi ích của các quốc gia lục địa như Hoa Kỳ và Nga, các quốc gia quần đảo như Sri Lanka và Jamaica, cũng như các quốc gia không giáp biển như Áo và Chad.

Phép thử eo biển Hormuz

Công ước này bác bỏ các yêu sách hiện hữu về quyền tài phán lãnh thổ vượt quá giới hạn 12 hải lý. Nó luật hóa quyền tự do qua lại không bị cản trở qua 100 eo biển có chiều rộng hẹp hơn 24 hải lý. Trong trường hợp hiện tại về cuộc tranh giành vị thế thống trị tại Eo biển Hormuz, Iran rõ ràng đang vi phạm quy tắc vì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển bảo đảm quyền “quá cảnh”. Tuy nhiên, Iran, cùng với Hoa Kỳ, lại nằm trong số ít những quốc gia không phê chuẩn hiệp ước này. Đây là một lý do giải thích vì sao Lầu Năm Góc từ lâu đã kiên định ủng hộ công ước, sau một loạt các cuộc tranh chấp, bao gồm cả bất đồng với quốc gia láng giềng Canada về Tuyến hàng hải Tây Bắc - khu vực băng hiện đang dần tan. Hơn nữa, mặc dù công ước công nhận vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho các quốc gia ven biển, nó không cho phép các quốc gia này hạn chế quyền qua lại của tàu thuyền hay quyền bay qua của máy bay thuộc các quốc gia khác.

Một khi Hoa Kỳ phê chuẩn công ước, áp lực sẽ đè nặng lên các quốc gia phản đối còn lại, buộc họ phải có bước đi tương tự. Trung Quốc, mặc dù e ngại việc công nhận công ước có thể trao cho Hải quân Hoa Kỳ quyền tuần tra không thể chối cãi tại Eo biển Đài Loan, đã phê chuẩn công ước. 

Lựa chọn cho tương lai

Mọi sự chú ý hiện đang đổ dồn vào một dải nước hẹp: Vịnh Iran và Eo biển Hormuz - đây lại là một bước thụt lùi nữa đối với những nỗ lực đấu tranh nhằm cứu lấy đại dương và bảo tồn đất liền của chúng ta. Cuộc tấn công của Hoa Kỳ và Israel đã làm rối ren và lu mờ một bức tranh vốn dĩ phải rất rõ ràng. Nếu Hoa Kỳ muốn đặt Iran hoàn toàn vào thế sai phạm pháp lý, họ nên phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển ngay từ lúc này, đây là một cách thức hiệu quả hơn nhiều để vạch trần sự sai phạm của Iran so với việc ném bom quốc gia này và cướp đi sinh mạng của những người vô tội.

Người dịch: Như Quỳnh

Nguồn: https://indepthnews.net/whither-the-law-of-the-sea/

 

Viết bình luận

Bình luận

Cùng chuyên mục