Ấn Độ học tại Việt Nam: Từ lý thuyết đến thực tiễn
1. Mở đầu
Nền tảng cho quan hệ Việt Nam - Ấn Độ vững bền là chính từ sức mạnh văn hóa sâu đậm, phong phú của hai nước.
Nói đến Ấn Độ là nói đến một trong bốn cái nôi sớm nhất của nền văn minh nhân loại - nền văn minh Ấn Hằng từ hơn 3000 năm trước Công nguyên, luôn tồn tại và không ngừng được bồi đắp đa dạng, phong phú theo dòng phát triển của lịch sử. Trong khi ba cái nôi văn minh cổ đại của thế giới là văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ai Cập bị đứt gãy hoàn toàn, văn minh Hoàng Hà Trung Quốc cũng nhiều khi bị lung lay, gián đoạn (như giai đoạn Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn Nho hay thời Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông) thì nền văn minh Ấn Độ vẫn luôn được vun xới tốt tươi, không ngừng phong phú, đa dạng trong sự thống nhất, không ngừng vươn cao sừng sững như dãy Hymalaya hùng vĩ, như ngọn Menu thần thánh được tôn xưng là “cột trụ trời” tỏa chiếu ánh hào quang lấp lánh rực sáng của vùng trời Phương Đông. Cũng chính từ điều này mà Ấn Độ huyền bí.
Ấn Độ huyền bí vì nơi đây được mệnh danh là xứ sở của thần thoại, huyền thoại với muôn điều kỳ diệu, xứ sở của cổ tích, truyền thuyết, của hàng nghìn thiên thần và nhân thần, tạo nên ngả đường duy linh phương Đông huyền bí.
Ấn Độ huyền bí vì nơi đây là quê hương của các tôn giáo lớn nội sinh và ngoại nhập (Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kỳ Na giáo (Đạo Jain), đạo Sikh, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Bái hỏa giáo, Đạo Do Thái,…) và là tiểu lục địa dung chứa nhiều tôn giáo lớn nhất trên thế giới. Tất cả các tôn giáo khác nhau, có tôn chỉ, giáo lý riêng nhưng đều chung sống hòa bình, khoan dung, hướng thiện trong ngôi nhà Ấn Độ.
Ấn Độ huyền bí vì đây là một dân tộc mộ đạo và trọng triết học vào bậc nhất trên thế giới. Triết học Ấn Độ phong phú, đa dạng, bao gồm nhiều trường phái khác nhau được chia làm hai hệ thống lớn và Astika (Hữu) và Nastika (Vô). Astika là hệ thống triết học chính thống, thừa nhận quyền uy của Kinh Veda, bảo vệ triết lý, tôn giáo Hindu, thừa nhận vị trí ưu việt của tầng lớp tu sĩ Bàlamôn. Nastika là hệ thống triết học phi chính thống, bác bỏ uy thế tuyệt đối của Kinh Veda, phản đối nhiều triết lý của Hindu giáo. Tuy hai trường phái triết học có khác nhau nhưng đều thống nhất ở điểm căn bản, đó là Đạo sống. Điểm căn bản này khác với triết học phương Tây. Điểm căn bản của triết học Phương Tây là nhận thức nằm trong giới hạn của lý trí, còn ở Ấn Độ là Đạo sống. Đạo sống là một con đường mà hành nhân là con người tinh thành thiết tha sống chết với tư tưởng của mình và thể hiện tư tưởng ấy trong từng cử chỉ, hành động thường nhật ở đời. Trái lại, nhận thức là chủ thể đứng yên trên một tháp ngà nhất định mà nhìn đời như một kẻ đứng bên ngoài nhìn xuống dòng sông. Lý trí mà Phương Tây ca tụng và tôn thờ chỉ là một cấp nhỏ trong những cấp bậc sai biệt của chân lý. Đạo lý làm căn bản cho lý trí và lý trí chỉ là phương tiện nhất thời trên con đường hướng đến chân lý. Triết học Ấn Độ được xây dựng căn bản đạo lý, khác với triết học Phương Tây được xây dựng căn bản lý trí (1).
Nói đến văn hóa Ấn Độ là nói đến một nền văn hóa anh hùng. Không anh hùng sao được khi Ấn Độ là cái nôi văn minh sớm nhất của nhân loại, không anh hùng sao được khi tôn giáo Ấn Độ “đọc” cho văn học ghi chép. Với bề dày hơn 40 thế kỷ, văn học Ấn Độ đã để lại cho thế giới nhiều tác phẩm vĩ đại như anh hùng ca Ramayana Mahabharata; những tên tuổi lẫy lừng như Kalidasa, kỳ công thứ nhất của nền văn học Ấn Độ và R. Tagore, kỳ công thứ hai sau Kalidasa, là mặt trời của đất nước Ấn Độ, là vị thánh, là nhà khai sáng vĩ đại của Ấn Độ hiện đại. Ngay từ thời cổ đại, nền văn hóa Ấn Độ đã mang tính toàn cầu. Ấn Độ không mở mang bờ cõi quốc gia bằng chiến tranh gươm súng để chiếm đất đai của quốc gia khác, mà mở mang bờ cõi văn hóa, lan chiếm không gian văn hóa rộng mở ra ngoài Ấn Độ. Ngày nay, Ấn Độ là nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới. Dự tính đến năm 25-30 của thế kỷ XXI, Ấn Độ sẽ trở thành nền kinh tế đứng thứ 3 trên thế giới sau Mỹ và Trung Quốc, tiềm lực quốc phòng đứng thứ 4 thế giới và lực lượng lao động trẻ, dồi dào, tư duy phát triển năng động, Ấn Độ sẽ trở thành hình mẫu về sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với thể chế dân chủ lớn nhất thế giới.
2. Khái quát về Ấn Độ học
Nói đến Ấn Độ học là nói đến ngành nghiên cứu học thuật về lịch sử và nền văn hóa Ấn Độ. Thuật ngữ Ấn Độ học trong tiếng Đức là Indologic, thường được liên kết với giới học thuật Đức và được sử dụng phổ biến hơn ở các trường đại học Đức và châu Âu lục địa so với các trường đại học nói tiếng Anh. Tại Hà Lan, thuật ngữ này được dùng để chỉ việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa Ấn Độ nhằm chuẩn bị cho công việc phục vụ thuộc địa Đông Ấn ở Hà Lan. Thuật ngữ Ấn Độ học trong tiếng Trung là induxué (印度学) với nội hàm nghiên cứu rộng hơn trong tiếng Đức. Đây là ngành nghiên cứu ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo, triết học Ấn Độ.
Một số học giả cố gắng phân biệt Ấn Độ học cổ điển với Ấn Độ học hiện đại, trong đó, Ấn Độ học cổ điển chủ yếu tập trung nghiên cứu văn học tiếng Phạn, tiếng Pali và tiếng Tamil, cũng như nghiên cứu các tôn giáo Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kỳ Na giáo và đạo Sikh,… còn Ấn Độ học hiện đại tập trung nghiên cứu Ấn Độ đương đại.
Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các hội nghiên cứu về Ấn Độ đã lần lượt được thành lập tại châu Âu và Ấn Độ, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của ngành Ấn Độ học hiện đại. Dấu ấn quan trọng của tiến trình này thể hiện rõ qua sự ra đời của những tạp chí học thuật chuyên ngành về Ấn Độ. Một trong số đó phải kể đến là tạp chí của Hội đồng Hoàng gia Á châu: Journal of the Royal Asiatic Society, một tạp chí Đông phương học lâu đời và uy tín, được xuất bản từ năm 1834, trong đó nghiên cứu về Ấn Độ và Nam Á luôn chiếm vị trí nổi bật; tạp chí Biên niên sử của Viện Nghiên cứu phương Đông Bhandarkar (Annals of the Bhandarkar Oriental Research Institute), một tạp chí học thuật chuyên sâu về Ấn Độ, xuất bản năm 1917. Các ấn phẩm này đã trở thành diễn đàn khoa học uy tín, góp phần hệ thóng hóa tri thức về lịch sử, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa Ấn Độ, đồng thời thúc đẩy sự hình thành mạng lưới học giả quốc tế trong lĩnh vực Ấn Độ học.
Trong bối cảnh Ấn Độ là thuộc địa của Anh, Ấn Độ học nổi lên như một môn học hàn lâm. Năm 1784, Hội Á châu (Asiatic Society) được thành lập tại Calcuta, đánh dấu mốc khởi đầu quan trọng của ngành Đông phương học và Ấn Độ học hiện đại với những nghiên cứu có hệ thống về lịch sử, ngôn ngữ, luật pháp, tôn giáo và văn hóa Ấn Độ. Các ấn phẩm của Hội đã kết nối học giả châu Âu và châu Á, hình thành mạng lưới trí thức xuyên khu vực, là tiền đề cho các hội Á châu sau đó. Hội Hoàng gia Á châu (Royal Asiatic Society) được thành lập năm 1823 tại London và chính thức nhận Hiến chương Hoàng gia năm 1824, trở thành một trung tâm nghiên cứu Đông phương học có ảnh hưởng rộng rãi. Năm 1842, Hội Phương Đông Hoa Kỳ (American Oriental Society) được thành lập, đánh dấu sự mở rộng của Đông phương học sang Hoa Kỳ, góp phần quốc tế hóa nghiên cứu Ấn Độ và châu Á trong thế kỷ XIX. Năm 1845, Hội Phương Đông Đức được thành lập, góp phần mở rộng nghiên cứu Ấn Độ trong không gian học thuật châu Âu. Năm 1949, Hiệp hội Nghiên cứu Ấn Độ và Phật giáo Nhật Bản (Japanese Association of Indian and Budhist Studies) được thành lập với tư cách là một trong những tổ chức học thuật quan trọng ở Đông Á chuyên về Ấn Độ học và Phật học, góp phần thúc đẩy nghiên cứu Sanskrits, triết học Ấn Độ và Phật giáo. Trong thế kỷ XX, nhiều tạp chí nghiên cứu về Ấn Độ cũng xuất hiện như Tạp chí Ấn Độ - Iran, Tạp chí của Hiệp hội Châu Á Hoàng gia, Tạp chí của Hiệp hội Phương Đông Hoa Kỳ, Tạp chí của Hiệp hội Phương Đông Đức, Tạp chí Triết học Ấn Độ của Viện Nghiên cứu Phương Đông và các tạp chí khác.
Việc thành lập các Hội nghiên cứu về Ấn Độ và các tạp chí chuyên sâu về Ấn Độ trên thế giới đã thúc đẩy Ấn Độ học không ngừng phát triển.
3. Ấn Độ học tại Việt Nam: Lý thuyết và thực tiễn
3.1. Bối cảnh lịch sử quan hệ Việt Nam - Ấn Độ
Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ là mối quan hệ đặc sắc, sâu đậm, trải dài từ hơn 2000 năm trước đến nay. Có thể khái quát thành ba làn sóng giao lưu, tiếp biến văn hóa sau:
Một là, làn sóng giao lưu, tiếp biến của Ấn Độ giáo vào Việt Nam từ hơn 2.000 năm trước.
Hai là, làn sóng giao lưu tiếp biến Ấn Độ giáo vào Việt Nam cũng từ hơn 2.000 năm trước.
Ba là, làn sóng giao lưu tiếp biến văn hóa, chính trị hiện đại mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, khởi xướng và lãnh đạo, dẫn dắt.
Chính trong bề dày lịch sử quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đó mà việc nghiên cứu Ấn Độ tại Việt Nam đã có từ rất sớm. Từ việc dịch các bộ sách kinh điển về Phật giáo đến truyền bá, hình thành nhiều trường phái Phật giáo ở Việt Nam, từ việc tiếp nhận Hindu giáo, thành lập các Đạo Blamôn, hình thành nền văn hóa Chăm, nghệ thuật kiến trúc Champa còn hiện hữu ở thánh địa Mỹ Sơn miền Trung Việt Nam, từ việc Hồ Chí Minh viết nhiều bài báo đăng trên các báo, tạp chí quốc tế phản ánh cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ, và sự kết giao với thánh Gandhi, với thủ tướng Jawaharlal Nehru, giới thiệu triết lý bất bạo động của Ấn Độ,… đã đặt nền tảng quan trọng cho Ấn Độ học ở Việt Nam hình thành và phát triển.
3.2. Quá trình hình thành và phát triển Ấn Độ học trong giai đoạn hiện đại
Ấn Độ học ở Việt Nam thời kỳ hiện đại là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành về đất nước và con người Ấn Độ, bao gồm lịch sử, văn hóa, tôn giáo, triết học, ngôn ngữ, kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và quan hệ quốc tế và quan hệ Việt Nam - Ấn Độ. Trong đó, nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Ấn Độ là một hướng nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực Ấn Độ học và quan hệ quốc tế. Hướng nghiên cứu chủ yếu tập trung luận giải, phân tích tiến trình phát triển quan hệ song phương, động lực hợp tác và tác động đối với lợi ích chiến lược của hai nước. Lĩnh vực nghiên cứu này phát triển sâu rộng từ sau khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới (1986) và Ấn Độ tiến hành công cuộc cách tân (1991), đặc biệt là khi hai nước nâng cấp quan hệ thành đối tác chiến lược (2007) và đối tác chiến lược toàn diện (2016).
Các giai đoạn nghiên cứu có thể khái quát như sau:
Giai đoạn trước năm 1986
Các công trình nghiên cứu còn rời rạc, chỉ tập trung phân tích về lịch sử ngoại giao, như quan hệ truyền thống, sự ủng hộ của Ấn Độ đối với Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Trong giai đoạn này, các phương pháp nghiên cứu còn thiên về mô tả.
Giai đoạn 1987-2007
Bắt đầu thành lập các nhóm nghiên cứu Nam Á tại các viện nghiên cứu và các trường đại học. Hướng nghiên cứu chính tập trung vào các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, tôn giáo, mở rộng sang các lĩnh vực hợp tác, chính trị, kinh tế, năng lượng, thương mại.
Giai đoạn 2007-2016
Thành lập các chuyên ngành nghiên cứu, các cơ sở đào tạo về Ấn Độ ở các các trường đại học. Đặc biệt, năm 2014, thành lập Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, được Tổng thống Ấn Độ Pranap Mukherjee và Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang khai trương và tặng Trung tâm 100 bộ sách.
Nghiên cứu Ấn Độ học trong giai đoạn này đã có nhiều khởi sắc. Các phương pháp nghiên cứu mới được vận dụng, các nội dung nghiên cứu chuyên sâu được mở rộng như: triết học, văn hóa, tôn giáo, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, năng lượng, an ninh quốc phòng, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và ngoại giao nhân dân.
Nhiều hội thảo quốc tế được tổ chức ở Việt Nam và ở Ấn Độ xoay quanh các chủ đề lớn về đất nước, lịch sử, văn hóa, con người Ấn Độ, về quan hệ Việt Nam, ASEAN - Ấn Độ, vè quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Nhiều công trình nghiên cứu, dịch thuật được đăng tải. Công tác truyền thông về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được chú trọng.
Giai đoạn từ năm 2016 đến nay
Nghiên cứu Ấn Độ học đã và đang bước vào giai đoạn chiều sâu mang tính chiến lược. Nhiều chủ đề nghiên cứu được chú trọng như: chính trị, ngoại giao, sức mạnh mềm Ấn Độ, kinh tế, thương mại, đầu tư song phương, năng lượng mới, an ninh quốc phòng, Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do, rộng mở, bao trùm, văn hóa, khoa học công nghệ, giáo dục, đào tạo, ngoại giao nhân dân, chuyển đổi số, y tế, dược phẩm,…
3.3. Các cơ quan nghiên cứu, đào tạo chủ yếu
Trong thời kỳ hiện đại, nhiều trung tâm, viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo về Ấn Độ học được thành lập:
- Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á, nay là Viện Nghiên cứu Nam Á - Tây Nam Á và Châu Phi thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
- Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
- Viện Nghiên cứu Chiến lược ngoại giao thuộc Học viện Ngoại giao Việt Nam.
- Khoa Đông phương học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Khoa Đông phương học, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
v.v. và nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo mới đã thành lập và đang nghiên cứu để thành lập.
3.4. Một số thành tựu nghiên cứu
- Về công tác tổ chức: Từ chỗ chưa có đơn vị nghiên cứu, đào tạo nào trước đây, thì trong thời gian từ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, Việt Nam đã thành lập được nhiều tổ chức nghiên cứu, đào tạo về chuyên ngành Ấn Độ học, ra mắt các tạp chí, website chuyên về Ấn Độ học.
- Tổ chức nghiên cứu hàng trăm đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp cơ sở và các công trình nghiên cứu nhóm, cá nhân phối hợp với các học giả Ấn Độ. Công bố hàng trăm công trình nghiên cứu, dịch thuật chuyên sâu về Ấn Độ. Riêng Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh từ khi thành lập năm 2014 đến năm 2021, trong thời gian PGS. TS. Lê Văn Toan và sau đó là TS. Nguyễn Thị Phương Thảo làm Giám đốc đã công bố hơn 40 đầu sách chuyên khảo, tham khảo, sách dịch chuyên sâu về Ấn Độ. Trong đó có nhiều bộ sách có giá trị như “Sức mạnh mềm Ấn Độ, gợi mở đối với Việt Nam”. Đặc biệt là bộ sách hơn 1.000 trang bằng 2 ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh “Hồ Chí Minh với Ấn Độ” được Nhà nước trao giải thưởng.
- Tổ chức hàng trăm hội thảo khoa học, tọa đàm khoa học chuyên sâu về Ấn Độ, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ tại Việt Nam và tại Ấn Độ về nhiều chủ đề như quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, năng lượng, an ninh quốc phòng, văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, ngoại giao nhân dân,…
- Về mở rộng hợp tác học thuật, đã tổ chức ký kết hợp tác với nhiều đơn vị nghiên cứu đào tạo của Ấn Độ như Quỹ Ấn Độ, ORF, ICWA, Trường Đại học Jawaharlal Nehru, Trường Đại học Delhi và nhiều đơn vị khác để nghiên cứu chuyên sâu về Ấn Độ và quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.
- Công tác truyền thông được chú trọng trên cả hai bình diện: chuyên sâu và mở rộng.
- Kết quả của các đề tài nghiên cứu, các công trình đăng tải, các hội thảo khoa học đã được rút gọn, tinh chỉnh thành các luận cứ khoa học kiến nghị Đảng, Nhà nước hoạch định chính sách đối ngoại, tập trung vào chính sách quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.
- Kết quả của nghiên cứu Ấn Độ học đã góp phần thúc đẩy nhận thức xã hội, nhất là nhận thức trong giới trẻ, hiểu sâu hơn, yêu mến hơn đất nước, con người Ấn Độ, từ đó có trách nhiệm xây dựng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.
3.5. Định hướng nghiên cứu Ấn Độ học trong thời gian tới
- Tăng cường công tác tổ chức, tiếp tục xây dựng các trung tâm nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về Ấn Độ.
- Nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề cơ bản về Ấn Độ: triết học, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, chính trị,… tiếng Hindi.
- Nghiên cứu quan hệ song phương, đa phương về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong khuôn khổ quan hệ với các nước trong khu vực và thế giới, trong đó chú trọng khuôn khổ Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
- Nghiên cứu vai trò của Ấn Độ với thế giới trong đó chú trọng chiến lược đa phương hóa của Việt Nam.
- Nghiên cứu sâu về tự chủ chiến lược, sức mạnh mềm Ấn Độ và ngoại giao nhân dân của Ấn Độ trong bối cảnh mới.
- Nghiên cứu sâu về hợp tác Việt Nam - Ấn Độ trên nhiều bình diện, nhất là những bình diện mới như dược liệu, y học, công nghệ số, bán dẫn, AI, cũng như việc kiết nối chuỗi cung ứng và kinh tế xanh.
Kết luận
Ấn Độ học tại Việt Nam là chuyên ngành khoa học có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, tiến cùng với sự giao lưu tiếp biến văn hóa của hai nước. Trong thời kỳ hiện đại, chuyên ngành này được Đảng, Nhà nước Việt Nam chú trọng quan tâm, thúc đẩy nên đã gặt hái được những thành quả nhất định. Tuy nhiên, những kết quả đạt được đáng khích lệ nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của chính phủ và nhân dân hai nước. Trong thời gian tới, hai nước cần có chủ trương, chính sách đẩy mạnh cụ thể hơn trên các bình diện xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ các nhà nghiên cứu chuyên sâu về Ấn Độ, tạo môi trường nghiên cứu thuận lợi, hấp dẫn hơn để dẫn dắt công tác nghiên cứu Ấn Độ học phát triển, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp phát triển của Việt Nam và Ấn Độ, cho quan hệ Việt Nam - Ấn Độ mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững./.
Tác giả: GVCC, PGS.TS. Lê Văn Toan, Nguyên Giám đốc sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giảng viên cao cấp Đại học Phương Đông.
Ghi chú:
1. Xem: Lê Văn Toan, Văn hóa Ấn Độ: Sự thống nhất trong đa dạng, gợi mở đối với Việt Nam, Đề tài Khoa học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, H., 2017, tr.204.
- Share
- Copy
- Comment( 0 )
Cùng chuyên mục