Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

banner-vi banner-vi

Đối ngoại nhân dân: Góc nhìn từ sự tác động của khoa học công nghệ

Đối ngoại nhân dân: Góc nhìn từ sự tác động của khoa học công nghệ

Tác giả: PGS.TS. Lê Văn Toan, Giảng viên cao cấp Đại học Phương Đông, Giám đốc sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

11:00 17-06-2026 Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

1. Khái quát về đối ngoại nhân dân
Thuật ngữ "đối ngoại nhân dân" trong bài viết này được sử dụng theo diễn ngôn trong nền ngoại giao Việt Nam. Đối ngoại nhân dân là một trong ba trụ cột của ngoại giao Việt Nam, được khẳng định trong các văn kiện của Đảng. Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIII nêu rõ yêu cầu: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân”(1), đồng thời nhấn mạnh việc triển khai đồng bộ, nhịp nhàng giữa các kênh đối ngoại. Đại hội Đảng lần thứ XIV tiếp tục khẳng định quan điểm này và nhấn mạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong công tác đối ngoại là góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và nâng cao vị thế của Việt Nam.

Đối ngoại nhân dân Việt Nam có nội hàm rộng và sâu sắc. Đây là hoạt động đối ngoại có sự tham gia rộng rãi của toàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở các cấp; các nhân sĩ, trí thức, các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ, các nhà báo, đồng bào các tôn giáo, các dân tộc, các doanh nhân thuộc các thành phần kinh tế; các tổ chức từ thiện, nhân đạo, bảo vệ môi trường; nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Mục tiêu cốt lõi của đối ngoại nhân dân Việt Nam là xây dựng và củng cố tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, phát huy sức mạnh mềm, làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ đất nước, truyền thống và con người Việt Nam, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, những thành tựu của công công cuộc đổi mới của ta,… giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, huy động nguồn lực quốc tế cho công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phương thức triển khai đối ngoại nhân dân bao gồm các hình thức hợp tác truyền thống và phi truyền thống trên nhiều lĩnh vực như: chính trị - xã hội, kinh tế - thương mại, khoa học - công nghệ, văn hóa - giáo dục, môi trường, phát triển bền vững, cứu hộ nhân đạo, hợp tác giữa người dân với người dân. Đối ngoại nhân dân có vai trò chiến lược quan trọng trong việc tăng cường phát huy sức mạnh mềm quốc gia, góp phần tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Trong quá trình phát triển, nhận thức của Đảng ta về đối ngoại nhân dân ngày càng sâu sắc, hoàn thiện. Điểm mới trong văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV là đặt đối ngoại trong yêu cầu mới: tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển, tăng cường sức mạnh mềm và nâng cao uy tín quốc gia. Điều này thể hiện tư duy chủ động hơn trong xử lý quan hệ quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Văn kiện xác định phải xây dựng nền đối ngoại hiện đại, chuyên nghiệp, toàn diện, phát triển tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam.

Lần đầu tiên Văn kiện Đảng yêu cầu gắn đối ngoại với phát triển khoa học - công nghệ, nhấn mạnh cần tận dụng đối ngoại để thu hút tri thức, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và các ngành công nghệ chiến lược được nổi bật trong định hướng phát triển mới. Nếu trước đây, đối ngoại nhân dân chủ yếu tập trung vào giao lưu hữu nghị và đoàn kết quốc tế, thì Đại hội XIV đặt ra yêu cầu mới: phải huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển, tăng cường sức mạnh quốc gia; tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước; đẩy mạnh thông tin đối ngoại và ngoại giao số; phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài như một nguồn lực chiến lược.

2. Mối quan hệ biện chứng và vai trò của khoa học - công nghệ đối với đối ngoại nhân dân
2.1. Khoa học - công nghệ vừa là công cụ, vừa là môi trường, vừa là nội dung của đối ngoại nhân dân
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khoa học - công nghệ và đối ngoại nhân dân tồn tại trong quan hệ tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Khoa học - công nghệ không chỉ hỗ trợ kỹ thuật cho đối ngoại nhân dân mà còn làm biến đổi cấu trúc, phương thức và nội dung của hoạt động này. Có thể khái quát mối quan hệ biện chứng đó qua ba phương diện cơ bản.

Thứ nhất, khoa học - công nghệ là công cụ của đối ngoại nhân dân. Ở cấp độ trực tiếp nhất, khoa học - công nghệ cung cấp phương tiện và nền tảng kỹ thuật giúp đối ngoại nhân dân mở rộng quy mô, tốc độ và hiệu quả: nền tảng số, mạng xã hội, hội nghị trực tuyến giúp kết nối nhân dân xuyên biên giới; công nghệ truyền thông đa phương tiện giúp nâng cao năng lực quảng bá hình ảnh quốc gia; dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phân tích dư luận quốc tế; ngoại giao số giúp giảm chi phí và rào cản không gian. Như vậy, khoa học - công nghệ làm tăng năng lực thực thi của đối ngoại nhân dân, biến đối ngoại nhân dân từ mô hình “tiếp xúc trực tiếp hạn chế” sang kết nối quy mô lớn theo thời gian thực.
Thứ hai, khoa học - công nghệ là môi trường mới của đối ngoại nhân dân. Ở cấp độ sâu hơn, khoa học - công nghệ, đặc biệt là không gian số, đã trở thành không gian xã hội mới nơi đối ngoại nhân dân diễn ra. Nhờ có khoa học - công nghệ mà môi trường đối ngoại nhân dân có sự chuyển dịch từ giao lưu trực tiếp sang tương tác số; từ không gian vật lý sang không gian mạng, từ quan hệ song phương sang mạng lưới quan hệ đa trung tâm, và từ thông tin một chiều sang đối thoại đa chiều. Môi trường mới đó có tính phi biên giới cao; tốc độ lan truyền nhanh; tính mạng lưới và phi tập trung; có sự tham gia mạnh của cá nhân và cộng đồng trực tuyến. Có thể khẳng định, khoa học - công nghệ không chỉ hỗ trợ đối ngoại nhân dân mà còn tái cấu trúc cách thức tồn tại của nó.
Thứ ba, khoa học - công nghệ trở thành nội dung của đối ngoại nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, khoa học - công nghệ không chỉ là phương tiện mà còn là đối tượng hợp tác và giao lưu của đối ngoại nhân dân thông qua: hợp tác khoa học giữa các viện nghiên cứu; giao lưu học thuật, trao đổi sinh viên STEM; mạng lưới nhà khoa học quốc tế; giải thưởng khoa học toàn cầu (ví dụ giải thưởng VinFuture); cộng đồng đổi mới sáng tạo xuyên biên giới. Ở đây, hoạt động khoa học - công nghệ vừa tạo kết nối nhân dân, vừa xây dựng lòng tin chiến lược, vừa nâng cao vị thế quốc gia. Xu hướng nổi bật là ngoại giao khoa học (science diplomacy) và đối ngoại tri thức ngày càng trở thành bộ phận quan trọng của đối ngoại nhân dân.
Mối quan hệ giữa khoa học - công nghệ và đối ngoại nhân dân mang tính hai chiều. Ở chiều thứ nhất, khoa học - công nghệ giúp đối ngoại nhân dân mở rộng chủ thể tham gia; số hóa phương thức hoạt động đối ngoại nhân dân; tăng tốc lan tỏa ảnh hưởng của đối ngoại nhân dân; làm xuất hiện các hình thức đối ngoại nhân dân mới. Ở chiều ngược lại, đối ngoại nhân dân thúc đẩy hợp tác nghiên cứu quốc tế trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, hình thành mạng lưới tri thức toàn cầu, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, tăng cường ngoại giao khoa học. Hai quá trình này tương tác xoắn ốc, cùng nâng cao vị thế quốc gia trong môi trường quốc tế.

Từ phân tích trên có thể thấy, khoa học - công nghệ đang làm chuyển đổi mô hình đối ngoại nhân dân từ truyền thống sang số hóa. Đối ngoại nhân dân trở thành kênh quan trọng thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế. Không gian số làm mờ ranh giới giữa đối ngoại nhà nước và đối ngoại nhân dân. Bối cảnh đó đòi hỏi các chính phủ cần hình thành tư duy đối ngoại nhân dân số và ngoại giao khoa học nhân dân.

2.2. Tác động của khoa học - công nghệ đối với đối ngoại nhân dân
2.2.1. Tác động tích cực
a. Tác động của khoa học - công nghệ đến phương thức tổ chức và triển khai đối ngoại nhân dân

Khoa học - công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, cách mạng công nghiệp lần thứ tư với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, blockchain, robot, điện toán đám mây,… đã tạo ra những thay đổi toàn diện và sâu sắc, mang tính cấu trúc và tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Khoa học - công nghệ là động lực then chốt của biến đổi của thời đại, vừa tạo ra cơ hội phát triển vượt bậc, vừa đặt ra thách thức lớn về quản trị, công bằng và bền vững. Hoạt động đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng không nằm ngoài dòng chảy đó. Khoa học - công nghệ làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức và triển khai đối ngoại nhân dân: từ không gian hoạt động, chủ thể tham gia đến công cụ, cách thức vận hành và hiệu quả tác động.

Thứ nhất, về không gian, phạm vi và hình thức triển khai: Công nghệ số đang phát triển nhanh như vũ bão. Kỷ nguyên số, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ số và công nghệ thông tin, đã tác động sâu rộng chưa từng có đến mọi lĩnh vực đời sống quốc tế: chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng,…. Trong ngoại giao, bên cạnh hình thức truyền thống, xuất hiện phương thức mới: ngoại giao số - một hình thức sử dụng công nghệ kỹ thuật số và công nghệ thông tin vào quá trình triển khai hoạt động ngoại giao, trong đó có đối ngoại nhân dân. Nếu như trước đây, hoạt động đối ngoại nhân dân chủ yếu diễn ra trực tiếp, kiểu truyền thống là giao lưu đoàn ra - đoàn vào, hội nghị, hội thảo, diễn đàn, hoạt động hữu nghị truyền thống, thì hiện nay, ngoài những hoạt động truyền thống đó, các hoạt động đối ngoại nhân dân có thể diễn ra trực tuyến trên không gian số thông qua các nền tảng số xuyên biên giới, mạng xã hội. Sự phát triển của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, Internet băng rộng, nền tảng họp trực tuyến, dữ liệu mở,… đã xóa nhòa ranh giới địa lý, giúp hợp tác nhân dân quốc tế không còn phụ thuộc chủ yếu vào gặp gỡ trực tiếp, mà chuyển mạnh sang kết nối trực tuyến, liên tục, chi phí thấp. Nhiều chương trình giao lưu thanh niên, sinh viên, phụ nữ, trí thức,… giữa các bạn bè quốc tế được tổ chức thông qua Zoom, Webinar, mạng xã hội,…. Nhiều hội thảo khoa học quốc tế được tổ chức trực tuyến khiến các nhà khoa học, trí thức, tổ chức xã hội từ nhiều quốc gia có thể tham gia mà không cần di chuyển. Có thể thấy rõ công nghệ số và mạng xã hội đã mở rộng không gian đối ngoại nhân dân từ không gian vật lý sang không gian số, phá vỡ giới hạn về: địa lý, thời gian, chi phí tổ chức. Ngoại giao số đã và đang trở thành một xu hướng phát triển quan trọng, nhất là trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân, mở ra khả năng mới, cơ hội mới tạo tiền đề cho các hình thức hợp tác nhân dân linh hoạt hơn.
Thứ hai, thay đổi về chủ thể tham gia, hoạt động đối ngoại nhân dân: Trước đây, hoạt động đối ngoại nhân dân ở Việt Nam chủ yếu do chủ thể chính thức như: Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể,… triển khai, thì nay, chủ thể hoạt động được mở rộng. Vai trò của các chủ thể phi nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn, doanh nghiệp, cá nhân gia tăng nhanh chóng. Mạng xã hội đã biến mỗi người dân trở thành một chủ thể đối ngoại, có thể trực tiếp chia sẻ thông tin, truyền tải hình ảnh, giá trị văn hóa của đất nước ra thế giới, tương tác với bạn bè quốc tế, mỗi cá nhân đều có thể trở thành “đại sứ nhân dân” trên không gian mạng. Mọi người dân Việt Nam, từ các doanh nhân, kiều bào, KOL, những người nông dân, trí thức,… đều có thể tham gia quảng bá hình ảnh đất nước thông qua hoạt động của mình trên không gian mạng. Đối ngoại nhân dân, vì thế, không còn giới hạn trong các tổ chức chuyên trách, mà trở thành hoạt động rộng khắp, đa tầng nấc. Hoạt động đối ngoại nhân dân từ chỗ mang tính tổ chức - đoàn thể là chủ yếu nay đã được mở rộng, mang tính mạng lưới, phi tập trung, đa tầng nấc.

Chính sách Hallyu của Hàn Quốc và DTAP Việt Nam trong lĩnh vực âm nhạc, giải trí cho thấy rất rõ điều đó. DTAP với sản phẩm MADE IN VIETNAM là ví dụ tiêu biểu cho thấy âm nhạc đương đại Việt Nam có thể trở thành công cụ mềm phục vụ đối ngoại nhân dân trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, tạo thiện cảm và sức hấp dẫn mềm, góp phần kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ âm nhạc, góp phần thúc đẩy ngoại giao số và đối ngoại nhân dân trên nền tảng số, tạo kênh ngoại giao từ dưới lên trên (bottom-up diplomacy), tạo ra các kênh giao lưu nhân dân - nhân dân trên không gian số, qua đó bổ trợ cho nền ngoại giao toàn diện, hiện đại của Việt Nam. Còn Hallyu (làn sóng Hàn Quốc) là chiến lược quốc gia nhằm quảng bá văn hóa đại chúng Hàn Quốc ra toàn cầu, đồng thời, qua đó hình thành nên mạng lưới người hâm mộ toàn cầu với những fans hâm mộ BTS, hay BLACKPINK,…. Nhiều học giả coi những nghệ sĩ này là “đại sứ nhân dân phi chính thức”. Đây chính là kênh đối ngoại nhân dân kiểu mới dựa trên văn hóa đại chúng và công nghệ số. Chính sách Hallyu của Hàn Quốc là mô hình tiêu biểu cho việc chuyển hóa sức mạnh văn hóa thành công cụ đối ngoại nhân dân hiện đại, hỗ trợ đắc lực cho ngoại giao chính trị.
Thứ ba, về phương thức truyền thông: Công nghệ số giúp các quốc gia, tổ chức, cá nhân kết nối với nhau nhanh chóng trong thời gian thực, vượt qua giới hạn địa lý, vượt qua rào cản ngôn ngữ. Đồng thời, công nghệ số tạo cơ sở nền tảng cho việc truyền thông hai chiều, phản hồi tức thì, cá nhân hóa thông điệp theo nhóm đối tượng, tạo điều kiện để đối ngoại nhân dân chuyển từ “tuyên truyền” một chiều sang “đối thoại - tương tác - đồng kiến tạo hình ảnh”. Ví dụ nhiều vlogger, blogger, du học sinh Việt Nam chia sẻ đời sống, văn hóa Việt Nam bằng tiếng nước ngoài, thu hút hàng triệu lượt người theo dõi. Người dân Việt Nam có thể chủ động tham gia bình luận, trao đổi, giải thích quan điểm của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.
Thứ tư, về phương thức hoạt động: Đối ngoại nhân dân chuyển từ việc tổ chức các sự kiện đơn lẻ sang hệ sinh thái số. Khoa học - công nghệ cho phép quản lý mạng lưới đối tác bằng dữ liệu, hình thành kho dữ liệu, cơ sở dữ liệu về quan hệ hữu nghị thuận lợi cho quản lý, tổ chức triển khai,…; xây dựng nền tảng trực tuyến kết nối thường xuyên không giới hạn thời gian, không gian. Nhờ đó, hoạt động đối ngoại nhân dân không còn hoàn toàn phụ thuộc vào các sự kiện ngắn hạn mà phát triển theo mô hình: liên kết thường xuyên - duy trì tương tác - xây dựng cộng đồng.
Thứ năm, về hiệu quả tác động: Công nghệ số giúp tăng cường sức mạnh mềm và hiệu quả vận động dư luận quốc tế. Mạng xã hội cho phép truyền tải thông điệp nhanh, tiếp cận trực tiếp công chúng quốc tế, định hình hình ảnh quốc gia từ góc nhìn của người dân. Ví dụ các chiến dịch truyền thông nhân dân trên mạng xã hội quảng bá cho văn hóa, phong tục tập quán, du lịch Việt Nam, quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam thân thiện, mến khách, yêu hòa bình,… giúp lan tỏa hình ảnh Việt Nam. Nhờ đó, đối ngoại nhân dân trở thành công cụ xây dựng sức mạnh mềm quốc gia, là kênh hỗ trợ hiệu quả cho đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước.

Bên cạnh đó, công nghệ số giúp gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với hoạt động đối ngoại nhân dân, tạo điều kiện để kiều bào hiểu rõ tình hình đất nước, có thể tham gia giao lưu, kết nối trí thức, doanh nhân, chuyên gia, nhà khoa học,… với đất nước, làm cho kiều bào trở thành lực lượng đối ngoại nhân dân quan trọng trên không gian số.
b. Tác động của khoa học - công nghệ đến hợp tác nhân dân trong nghiên cứu, sáng tạo, đổi mới

Một là, khoa học - công nghệ thúc đẩy hợp tác nhân dân quốc tế trong nghiên cứu, sáng tạo và đổi mới:

Thứ nhất, sự phát triển khoa học - công nghệ làm thay đổi bản chất hợp tác nhân dân quốc tế từ chỗ giao lưu, hiểu biết lẫn nhau sang cùng nghiên cứu, cùng sáng tạo, cùng giải quyết vấn đề toàn cầu. Nhân dân, đặc biệt là trí thức, các nhà khoa học, các chuyên gia trở thành chủ thể hợp tác quốc tế, họ có thể liên kết với nhau theo mạng lưới trí thức xuyên quốc gia, như các nhóm nghiên cứu khoa học quốc tế hợp tác trực tuyến trong các lĩnh vực y sinh, biến đổi khí hậu, năng lượng tái tạo, các dự án khoa học mở. Các nhà khoa học ở khắp nơi trên thế giới có thể cùng nhau nghiên cứu, thảo luận, đóng góp dữ liệu, kết quả nghiên cứu, đưa ra giải pháp,… Giải thưởng VinFuture là minh chứng rất rõ nét về điều này. Giải Đặc biệt VinFuture 2025 dành cho Nhà khoa học nghiên cứu các lĩnh vực mới đã vinh danh 5 nhà khoa học: GS. Venkatesan Sundaresan (Hoa Kỳ), GS. Raphaël Mercier (Đức), TS. Emmanuel Guiderdoni (Pháp), TS. Imtiyaz Khanday (Hoa Kỳ) và TS. Delphine Mieulet (Pháp) vì những đổi mới trong phát triển các loại cây trồng lai có khả năng tự nhân giống(2).
Thứ hai, khoa học - công nghệ tạo điều kiện hình thành cộng đồng hợp tác nhân dân xuyên biên giới. Nhờ nền tảng số và công nghệ truyền thông, các cộng đồng nhân dân quốc tế được hình thành dựa trên nghề nghiệp, mối quan tâm chung, lĩnh vực chuyên môn. Đây là hình thức hợp tác phi chính phủ, linh hoạt, bền vững lâu dài. Hợp tác nhân dân - nhân dân không chỉ còn là những sự kiện gặp gỡ trực tiếp, giao lưu hữu nghị truyền thống, mà đã trở thành mạng lưới xã hội - tri thức quốc tế. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ số, các nền tảng mạng xã hội, các nền tảng học thuật,… đã được xóa nhòa khoảng cách địa lý, cho phép các cộng đồng chuyên môn, nghề nghiệp, cộng đồng chuyên gia, các nhà khoa học,… có thể làm việc chung online theo thời gian thực. Điều đó giúp cho đối ngoại nhân dân chuyển từ mô hình truyền thống (gặp gỡ, giao lưu, tọa đàm, trao đổi trực tiếp,…) sang mô hình mạng lưới kết nối online liên tục, đồng sáng tạo tri thức. Chủ thể tham gia mạng lưới kết nối này là những tổ chức nhân dân, hội hữu nghị, NGO, viện nghiên cứu, trường đại học, cộng đồng nghề nghiệp, chuyên gia,… thông qua kết nối số, các nền tảng học thuật,…. Các cộng đồng học thuật quốc tế trên ResearchGate, GitHub, diễn đàn khoa học mở là ví dụ điển hình. Công nghệ số khiến tri thức trở thành quyền lực mềm mới. Hợp tác nhân dân dần mang tính ngoại giao tri thức. Mạng lưới xã hội - tri thức quốc tế không còn hoàn toàn phụ thuộc vào kênh nhà nước, mà mang tính linh hoạt, có thể hoạt động cả online và cả offline, xuất hiện nhiều kết nối ngang giữa học giả - học giả, tổ chức xã hội - NGO, cộng đồng chuyên môn,…
Thứ ba, khoa học - công nghệ nâng cao hiệu quả hợp tác nhân dân trong giải quyết các vấn đề toàn cầu. Khoa học - công nghệ giúp hợp tác nhân dân chuyển từ trao đổi thông tin sang phối hợp hành động dựa trên công nghệ để giải quyết các vấn đề toàn cầu như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai, an ninh lương thực,…. Việc các mạng lưới khoa học và y tế quốc tế chia sẻ dữ liệu dịch bệnh theo thời gian thực có thể được nhìn nhận như một biểu hiện điển hình của đối ngoại nhân dân trong kỷ nguyên số.

Về chủ thể, nhiều cơ chế chia sẻ dữ liệu dịch bệnh không vận hành thuần túy qua kênh ngoại giao nhà nước mà dựa trên cộng đồng chuyên môn xuyên biên giới (các nhà khoa học, bác sĩ, phòng thí nghiệm, hiệp hội nghề nghiệp,…). Hệ thống GISRS của WHO kết nối hàng trăm phòng thí nghiệm quốc gia; nền tảng GISAID cho phép các nhóm nghiên cứu toàn cầu chia sẻ trình tự gene virus gần như tức thời; còn ProMED-mail, hệ thống cảnh báo dịch bệnh toàn cầu dựa trên cộng đồng chuyên gia, cho phép chia sẻ thông tin ổ dịch gần thời gian thực và thường phát hiện sớm các mối đe dọa y tế mới nổi, qua đó tăng cường hợp tác y tế xuyên biên giới(3). Những cấu trúc này phản ánh sự dịch chuyển từ ngoại giao liên chính phủ sang ngoại giao mạng lưới của cộng đồng khoa học.
Về phương thức, công nghệ số đã biến hợp tác y tế thành một quá trình tương tác trực tiếp, phi trung gian và thời gian thực giữa con người với con người ở các quốc gia khác nhau. Điều này phù hợp với bản chất của đối ngoại nhân dân là tăng cường hiểu biết, tin cậy và hợp tác giữa các tầng lớp nhân dân. Khi các nhà khoa học Việt Nam tải dữ liệu gene lên GISAID hay tham gia mạng lưới GISRS, họ không chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà còn tham gia vào dòng chảy hợp tác nhân dân toàn cầu dựa trên tri thức.
Về tác động, các mạng lưới chia sẻ dữ liệu dịch bệnh tạo ra ba hiệu ứng đối ngoại nhân dân quan trọng: (1) xây dựng lòng tin xuyên biên giới thông qua minh bạch dữ liệu khoa học; (2) hình thành cộng đồng tri thức quốc tế, nơi bản sắc nghề nghiệp vượt lên trên khác biệt quốc gia; (3) nâng cao vị thế quốc gia thông qua đóng góp khoa học, một dạng “ quyền lực mềm khoa học ” trong đối ngoại nhân dân.
Như vậy, có thể thấy rằng, khoa học - công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ đối ngoại nhân dân mà đã trở thành môi trường và hạ tầng vận hành của đối ngoại nhân dân hiện đại. Trong bối cảnh các thách thức phi truyền thống như đại dịch ngày càng gia tăng, các mạng lưới dữ liệu y tế thời gian thực đang làm mờ ranh giới giữa ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân, thúc đẩy một mô hình đối ngoại mang tính liên kết phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc.
Hai là, khoa học - công nghệ tăng cường vai trò của nhân dân và tổ chức xã hội trong hợp tác quốc tế: Nhờ khoa học - công nghệ mà các tổ chức nhân dân, NGO, hiệp hội nghề nghiệp,… nâng cao năng lực chuyên môn, tăng uy tín và vị thế trong hợp tác quốc tế, đồng thời, người dân có thể chủ động đề xuất sáng kiến, tham gia mạng lưới hợp tác toàn cầu. Nhờ đó, hợp tác nhân dân quốc tế ngày càng mang tính chủ động, bình đẳng và thực chất.

Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu, nhiều tổ chức phi chính phủ đã tích cực ứng dụng công nghệ nhằm giải quyết các vấn đề phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục, Khan Academy cung cấp nền tảng học trực tuyến miễn phí cho người học trên toàn thế giới(4). Trong y tế, Médecins Sans Frontières (MSF) triển khai hệ thống telemedicine kết nối chuyên gia quốc tế với các khu vực thiếu thốn dịch vụ y tế(5). Trong bảo vệ môi trường, World Wildlife Fund sử dụng dữ liệu vệ tinh và trí tuệ nhân tạo để giám sát đa dạng sinh học(6). Những sáng kiến này cho thấy, công nghệ đang trở thành công cụ quan trọng của các chủ thể phi nhà nước trong thúc đẩy phát triển bao trùm và tăng cường hợp tác xuyên biên giới.

Các sáng kiến cộng đồng xuyên biên giới dựa trên công nghệ số đang trở thành biểu hiện điển hình của đối ngoại nhân dân trong kỷ nguyên số. Những nền tảng như: Bản đồ số nhân đạo toàn cầu của Humanitarian OpenStreetMap Team do hàng trăm tình nguyện viên từ nhiều quốc gia cùng lập cho vùng thiên tai, khu ổ chuột, khu vực thiếu dữ liệu địa lý,… và được chia sẻ mở cho cộng đồng nhân đạo toàn cầu sử dụng(7). U-Report là nền tảng nhắn tin xã hội do UNICEF phát triển, cho phép thanh niên ở hơn 90 quốc gia có thể gửi ý kiến qua SMS/chatbot; tham gia khảo sát chính sách, nhận thông tin y tế - xã hội góp phần kết nối thanh niên toàn cầu theo thời gian thực, hình thành cộng đồng công dân số xuyên biên giới, giúp họ tăng cường hiểu biết và tham gia xã hội(8). Nhờ đó, quan hệ quốc tế không chỉ vận hành qua kênh nhà nước mà còn thông qua mạng lưới xã hội - tri thức toàn cầu, góp phần tăng cường hiểu biết, lòng tin và hợp tác giữa nhân dân các nước. Điều này cho thấy công nghệ số đang trở thành hạ tầng quan trọng của đối ngoại nhân dân hiện đại.
Ba là, khoa học - công nghệ xây dựng lòng tin và hiểu biết giữa nhân dân các nước: Thông qua hợp tác khoa học - công nghệ nhân dân các nước có cơ hội hiểu rõ năng lực, thiện chí của nhau, hợp tác trên cơ sở khoa học, minh bạch. Điều này tạo nền tảng xã hội quan trọng cho quan hệ hữu nghị, hòa bình và hợp tác phát triển bền vững. Các chương trình trao đổi học thuật, đào tạo trực tuyến quốc tế; hợp tác nghiên cứu chung giữa các trường đại học, viện nghiên cứu,… là những minh chứng rõ nét.
2.2.2. Thách thức của sự phát triển khoa học - công nghệ đặt ra cho đối ngoại nhân dân
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, khoa học - công nghệ có những tác động tiêu cực và đặt ra những thách thức nhất định đối với đối ngoại nhân dân.

Một là, nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch, xuyên tạc trên không gian mạng: Sự bùng nổ của internet, mạng xã hội và AI đã làm thay đổi căn bản cấu trúc lan truyền thông tin toàn cầu. Các nghiên cứu cho thấy, thông tin sai lệch trên mạng xã hội có thể lan nhanh hơn nhiều lần so với thông tin chính xác, dưới tác động của thuật toán và yếu tố cảm xúc người dùng. Đồng thời, các công nghệ AI như deepfake, bot tự động và hệ thống tạo nội dung đã làm gia tăng khả năng sản xuất và khuếch đại thông tin sai lệch với chi phí thấp và quy mô lớn. Trong bối cảnh đó, đối ngoại nhân dân, vốn dựa trên giao lưu mở, linh hoạt, tương tác xã hội rộng rãi, sử dụng mạnh nền tảng số,… nếu thiếu cơ chế định hướng và kiểm soát phù hợp, có nguy cơ trở thành mục tiêu bị lợi dụng để cài cắm thông tin sai, thao túng nhận thức, hoặc bị lợi dụng cho chiến tranh thông tin,…
Hai là, thách thức trong đảm bảo tính thống nhất thông điệp đối ngoại: Sự phát triển của công nghệ số và mạng xã hội đã làm đa dạng hóa chủ thể tham gia truyền thông đối ngoại, phá vỡ mô hình đối ngoại truyền thống “từ trên xuống”. Các nền tảng số cho phép cả chính phủ và tổ chức phi chính phủ cùng tham gia truyền thông đối ngoại, làm thay đổi cấu trúc truyền thông quốc tế. Sự tham gia của KOLs/influencers và công dân mạng đã mở rộng đáng kể phạm vi ngoại giao công chúng nhưng đồng thời làm gia tăng nguy cơ thông điệp thiếu nhất quán và khó kiểm soát. Các nghiên cứu cũng cho thấy, tính không chính thức và tức thời của mạng xã hội có thể dẫn đến phát ngôn bộc phát, hiểu lầm ngoại giao hoặc phản ứng tiêu cực từ công chúng quốc tế nếu không được định hướng phù hợp.
Ba là, nguy cơ bị lợi dụng công nghệ để can thiệp, gây chia rẽ trong giao lưu nhân dân: Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy, không gian mạng xã hội ngày càng trở thành mục tiêu của các chiến dịch thao túng thông tin có chủ đích. Thông tin sai lệch có thể lan nhanh gấp nhiều lần thông tin chính xác, làm suy giảm khả năng chống chịu của môi trường thông tin. Báo cáo của Oxford Internet Institute cũng ghi nhận các chiến dịch “computational propaganda” đã xuất hiện ở hơn 80 quốc gia, sử dụng bots, tài khoản giả và cả các chủ thể xã hội dân sự để khuếch đại thông điệp. Các nghiên cứu mạng lưới tiếp tục chứng minh rằng việc xâm nhập cộng đồng trực tuyến và khuếch đại nội dung kích động có thể làm gia tăng phân cực xã hội. Trong bối cảnh đó, giao lưu nhân dân trên nền tảng số đứng trước nguy cơ bị lợi dụng để can thiệp, gây nhiễu và chia rẽ nếu thiếu cơ chế định hướng và bảo vệ phù hợp.
Bốn là, khoảng cách số và sự bất bình đẳng trong tham gia đối ngoại nhân dân: Các nghiên cứu của ITU (năm 2024 có 83% dân đô thị online nhưng chưa tới 48% dân nông thôn có internet(9)) và nghiên cứu của UNESCO (chỉ 39% dân số toàn cầu có kỹ năng ICT cơ bản(10)) cho thấy, khoảng cách số vẫn tồn tại rõ rệt theo vùng miền, trình độ học vấn và độ tuổi. Tỷ lệ tiếp cận Internet ở nông thôn thấp hơn đáng kể so với đô thị. Thực trạng này dẫn tới việc một bộ phận người dân bị hạn chế khả năng tham gia các hoạt động đối ngoại nhân dân trên nền tảng số. Chẳng hạn như trong nhiều diễn đàn quốc tế của NGO, đại biểu vùng đô thị có thể tham gia thông qua Zoom, Webinar, trong khi đó, đại biểu ở các vùng khó khăn không đủ đường truyền nên không thể tham gia, điều đó tạo khoảng cách số trong tham gia đối ngoại nhân dân. Hay như ngoại giao văn hóa trên mạng xã hội, many nhóm KOL hoặc nhóm trẻ tuổi sử dụng tiếng Anh tốt thì thông điệp của họ lan tỏa mạnh, trong khi nhiều tổ chức quần chúng, cá nhân ở địa phương lại yếu về ngoại ngữ, thiếu kỹ năng số,… thực tế đó làm cho sự tham gia đối ngoại không cân bằng giữa các chủ thể nhân dân. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thu hẹp khoảng cách số và nâng cao năng lực số cho mọi người dân trong xã hội.
Năm là, áp lực về an ninh mạng và bảo mật thông tin trong hoạt động đối ngoại nhân dân: Sự phát triển nhanh của khoa học - công nghệ và quá trình số hóa đã làm gia tăng đáng kể nguy cơ tấn công mạng và rò rỉ dữ liệu trên phạm vi toàn cầu. Báo cáo của World Economic Forum(11) và International Telecommunication Union(12) đều cho thấy, tội phạm mạng tăng nhanh, với các cuộc tấn công ngày càng tinh vi và có chủ đích, đồng thời nhấn mạnh các cuộc tấn công trong môi trường số tăng lên nhiều và gia tăng nguy cơ rò rỉ dữ liệu. Đáng chú ý, các nghiên cứu của và Microsoft cho thấy, các tổ chức xã hội dân sự và phi lợi nhuận thường trở thành mục tiêu của các chiến dịch tấn công mạng do năng lực bảo mật hạn chế nhưng lại nắm giữ nhiều dữ liệu hợp tác quốc tế(13). Trong bối cảnh đó, đối ngoại nhân dân, với đặc trưng mở, phi chính phủ và đa chủ thể, đứng trước nguy cơ dễ bị tổn thương về an ninh thông tin nếu thiếu cơ chế bảo vệ phù hợp.
Sáu là, nguy cơ “hành chính hóa” hoặc “tự phát hóa” đối ngoại nhân dân trong môi trường số: Sự phát triển của môi trường số đang đặt đối ngoại nhân dân trước hai xu hướng lệch pha.

Một mặt, một số nghiên cứu về ngoại giao số cho thấy, nếu các cơ quan quản lý áp dụng tư duy hành chính truyền thống, hoạt động đối ngoại trên nền tảng số dễ rơi vào mô hình truyền thông một chiều, làm suy giảm tính tương tác xã hội. Bjola & Holmes cho rằng, ngoại giao số hiệu quả phải dựa trên tương tác hai chiều, nếu chỉ dùng như kênh phát thông tin chính thức sẽ làm giảm độ tin cậy(14). Còn Cull nhấn mạnh rằng, ngoại giao công chúng trong thời đại mạng xã hội cần có sự tham gia của mạng lưới chứ không phải mô hình hành chính truyền thống(15). Nếu đối ngoại nhân dân trên nền tảng số bị quản lý theo tư duy hành chính cứng nhắc thì sẽ mất bản chất.
Mặt khác, sự mở rộng của các chủ thể phi nhà nước và cá nhân trên mạng xã hội lại tạo ra nguy cơ “tự phát hóa”, khi nhiều thông điệp đối ngoại được sản xuất phân tán, mang tính cảm tính và thiếu điều phối chiến lược. Hocking & Melissen chỉ rõ, ngoại giao hiện đại chuyển sang mô hình ngoại giao đa bên (multi-stakeholder diplomacy) với nhiều chủ thể nước ngoài tham gia, tuy nhiên, họ cảnh báo, sự đa trung tâm này làm khó điều phối thông điệp quốc gia, dễ dẫn đến nguy cơ “tự phát hóa”(16). Nghiên cứu của Sevin & Ingenhoff cho thấy, thông điệp quốc gia trên mạng xã hội thường bị phân mảnh bởi nhiều chủ thể phát ngôn, thiếu cơ chế phối hợp, dẫn đến hình ảnh quốc gia không nhất quán(17). Hai xu hướng này đồng thời tồn tại, đặt ra yêu cầu cân bằng giữa định hướng và trao quyền trong quản trị đối ngoại nhân dân thời đại số.
Bảy là, thách thức từ các hệ sinh thái số: Thế giới đang dần chia thành những “khối công nghệ” riêng biệt. Các nước châu Âu, Mỹ, Nhật Bản sử dụng hệ sinh thái số do các tập đoàn công nghệ Google, Microsoft, Amazon cung cấp. Trong khi đó, Trung Quốc và một số nước khác lại sử dụng hệ sinh thái riêng như WeChat, TikTok, Alibaba Cloud, Baidu. Nga cũng tạo hệ sinh thái riêng như VKontakte (thay thế Facebook), RuTube (thay thế YouTube). Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức các nước tiến hành ngoại giao số, trong đó có đối ngoại nhân dân thông qua các nền tảng số, do các nước sử dụng các nền tảng mạng xã hội khác nhau nên khó tiếp cận nhau hơn(18).

3. Kết luận
Tóm lại, khoa học - công nghệ đang thúc đẩy đối ngoại nhân dân từ mô hình tiếp xúc trực tiếp sang mô hình mạng lưới số đa chủ thể. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không phải là hạn chế công nghệ, mà là nâng cao năng lực quản trị đối ngoại nhân dân trong môi trường số theo hướng: bảo đảm định hướng chiến lược nhưng vẫn phát huy tính xã hội và tính mở; thu hẹp khoảng cách số và nâng cao năng lực số cho các chủ thể nhân dân; tăng cường bảo đảm an ninh thông tin và an toàn mạng; xây dựng cơ chế phối hợp thông điệp trong hệ sinh thái đối ngoại đa chủ thể. Nếu làm tốt sự cân bằng này, khoa học - công nghệ sẽ tiếp tục là động lực mạnh mẽ thúc đẩy đối ngoại nhân dân phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và có sức lan tỏa quốc tế sâu rộng.


Tài liệu tham khảo và chú thích
(1). Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIII, t.I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.162.

(2). Thông cáo báo chí (2025), “VinFuture 2025 - vinh danh 4 công trình khoa học “cùng vươn mình - cùng thịnh vượng”, https://vinfutureprize.org.

(3). Madoff L.C (2004), “ProMED-mail: an early warning system for emerging diseases". Clinical Infectious Diseases, 39(2), pp.227-232, DOI: 10.1086/421997.

(4). Reich J. (2020), Failure to disrupt: Why technology alone can’t transform education, Harvard University Press.

(5). Wootton R., Liu J., Bonnardot L. & Menzies J. (2012), “Telemedicine support for Médecins Sans Frontières”, Journal of Telemedicine and Telecare, 18 (3), pp.179-184. https://doi.org/10.1258/jtt.2012.SFT110.

(6). WWF (2022), Living planet report 2022.

(7). Meier P. (2015), Digital humanitarians, CRC Press; Humanitarian OpenStreetMap Team (2020), About HOT, https://www.hotosm.org.

(8). UNICEF (2017), RapidPro: Real-time data for social impact.

(9). ITU Publications, Report by the Secretary-General, Annual Report on the implementation of the Strategic Plan and the activities of the Union 2024, May 2025.

(10), (11). World Economic Forum (2023), Global Risks Report.

(12). International Telecommunication Union (2022), Global Cybersecurity Outlook.

(13). Microsoft (2023), Digital Defense Report.

(14). Bjola C., & Holmes M. (2015), Digital diplomacy, Routledge.

(15). Cull, Nicholas J. (2019), Public diplomacy: Foundations for global engagement, Polity.

(16). Hocking B. & Melissen J. (2015), Diplomacy in the digital age.

(17). Sevin E. & Ingenhoff D. (2018), “Public diplomacy on social media”, Public Relations Review.

(18). Bùi Thành Nam, Nguyễn Ngọc Cương (2025), “Xu hướng ngoại giao số trong kỷ nguyên mới và một số hàm ý chính sách”, https://www.tapchicongsan.org.vn/, ngày 13/7/2025.

 

Viết bình luận

Bình luận

Cùng chuyên mục