Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Quá trình phát triển và phân phái của Phật giáo Ấn Độ

Quá trình phát triển và phân phái của Phật giáo Ấn Độ

Phật giáo phát triển mạnh mẽ, số người theo đạo đông nhưng với nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy trong đó có nhiều người không thành tâm với đạo, không giữ giới luật, vương vấn với đời, gây nhiều điều bất hòa, phức tạp. Lo lắng trước tiền đồ của Phật giáo, cùng ý muốn truyền bá phật giáo ra nước ngoài, vua A Dục đã triệu tập 1000 vị trưởng lão uyên thâm để kết tập kinh điển tại thành Hoa Thị.

01:05 05-10-2022 Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Phật giáo là một trào lưu tư tưởng lớn xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI trước Công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ. Sự ra đời của tư tưởng Phật giáo gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội của Ấn Độ đương thời. Đây là thời kỳ chế độ nô lệ kiểu phương Đông đã phát triển với sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt và nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền là sở hữu tối cao về ruộng đất và thần dân. Đời sống tinh thần xã hội lúc này bị thống trị bởi quan điểm duy tâm, tôn giáo trong thánh kinh Veda và đạo Balamon.

Sự thống trị khắc nghiệt của những tầng lớp trên và sự cùng cực của các tầng lớp dưới trong xã hội Ấn Độ tất yếu dẫn đến những mâu thuẫn sâu sắc và sự phản kháng của quần chúng lao động đòi hỏi một sự tự do, công bằng, bình đẳng. Trong làn sóng đấu tranh mạnh mẽ đó, Phật giáo xuất hiện đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, nó phản ánh nỗi đau khổ của con người, chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp và sự áp bức, bất công, chống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Balamon, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người. Với mục đích giải thoát con người bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, Phật giáo từ chỗ là một trào lưu tư tưởng bị coi là tà giáo đã phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một tôn giáo lớn, có tính chất quốc tế được truyền bá rộng rãi, đã và đang ảnh hưởng nhiều đến đời sống văn hóa, tinh thần của nhiều dân tộc phương Đông.

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, có một hiện tượng mang tính quy luật, đó là hiện tượng phân phái của các hệ thống triết lý lớn trong quá trình phát triển của chúng. Không nằm ngoài quy luật đó, trong quá trình phát triển của mình, Phật giáo đã phân chia thành nhiều bộ phái khác nhau do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

1. Nguyên nhân dẫn đến sự phân phái của Phật giáo

Nguyên nhân dẫn đến sự phân phái của Phật giáo là do có sự khác biệt nhau về tổ chức giới luật, giáo lý và  sự giải thích tư tưởng của Thích Ca Mâu Ni. Sự biến đổi ấy của Phật giáo còn do sự tác động phê phán của các trường phái triết học khác đối với triết lý Phật giáo và thực chất của quá trình biến đổi ấy là sự phản ánh toàn bộ tính chất sinh hoạt Ấn Độ đương thời. Chúng ta có thể xem xét những nguyên nhân đó trên những khía cạnh cụ thể như sau:


Thứ nhất, sự bất đồng về quan điểm giáo pháp và giới luật giữa các tăng đoàn Phật giáo. Sau khi Đức Phật nhập diệt, trong hàng đệ tử đã sinh ra những kiến giải bất đồng về giáo pháp và giới luật của Phật, thể hiện rõ hai quan điểm bảo thủ và cách tân. Đại đa số tăng sỹ trong đó có tôn giả Ma Ha Ca Diếp theo quan điểm bảo thủ, chủ trương bảo vệ truyền thống “không thể thêm bớt chút nào trong các luật lệ mà Đức Thế Tôn đã ban hành”, giữ nguyên lời giảng dạy của Phật lúc tại thế. Trái lại những người theo quan điểm cách tân như A Nan tôn giả lại cho rằng, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, có thể thêm bớt vào những lời giảng, những giới luật của Phật cho phù hợp. Theo họ không nên gò bó gượng ép lời dạy, giới luật vào ngôn từ chữ nghĩa hẹp hòi mà phải hiểu ý nghĩa sâu xa trong những lời dạy của Đức Phật để áp dụng cho phù hợp với thực tế. Với quan điểm như vậy, những tăng sỹ tiến bộ đã chủ trương sửa đổi lại một số luật lệ truyền thống cho phù hợp với hoàn cảnh thực tại. Nếu tất cả những điều xưa bị cấm thì theo họ trong hoàn cảnh hiện tại có thể được phép làm mà không phạm giới. Sự thay đổi đó đã bị phần lớn các trưởng lão, tăng sỹ thuộc phái bảo thủ phản đối, cương quyết giữ nguyên giới luật truyền thống, không thêm bớt, dù là điều nhỏ nhất. Sự bất đồng đó đã dẫn đến những khác nhau về giới luật giữa các tăng đoàn.

Thứ hai, sự khác nhau về triết học và giáo lý trong nội bộ Phật giáo. Ở phạm vi triết lý, có hai lập trường khác nhau về vấn đề bản thể luận, đó là “hữu luận” và “không luận”. Quan điểm “hữu luận” chủ trương thế giới vật chất tồn tại chân thật và hiện hữu tương đối, ngược lại quan điểm “không luận” lại cho rằng, thế giới vạn vật hiện hữu đấy, nhưng lại không có thật, cái gốc của nó vẫn là không. Ở phạm vi giáo lý, các tăng sỹ, phật tử cũng theo mục đích tôn chỉ phấn đấu cho sự giải thoát cuối cùng là hướng tới Niết bàn nhưng họ có quan điểm khác nhau về cách thức giải thoát. Một số chủ trương mỗi người tự tu luyện để đạt Niết bàn, không ai có thể làm thay hoặc trợ giúp, đó là sự giải thoát mang tính cá nhân - tự giác. Số khác quan niệm rằng để giải thoát con người không chỉ dựa vào bản thân, mà còn cần đến sự giúp đỡ từ bên ngoài.

Thứ ba, sự tác động của các trường phái triết học khác đối với Phật giáo. Lịch sử triết lý tôn giáo Ấn Độ nói chung luôn gắn liền với những cuộc đấu tranh tư tưởng hết sức sôi động và gay gắt giữa các trường phái triết học, tôn giáo khác nhau. Quá trình phát triển, phân phái của Phật giáo cũng không ngoài sự ảnh hưởng của những cuộc tranh luận ấy, nhất là khi Balamon giáo bắt đầu phục hồi, Hồi giáo tràn vào Ấn Độ. Qua những sự phê phán, công kích của các trường phái triết học tôn giáo truyền thống hoặc ngoại lai, Phật giáo bộc lộ những yếu điểm cần khắc phục trong quan điểm triết học, hay trong phạm vi giáo lý, nghi thức, giới luật. Tuy nhiên, khi khắc phục những hạn chế ấy, các tăng sĩ, phật tử với những cách tiếp cận khác nhau, đi đến giải quyết những vấn đề khác nhau, nảy sinh những hệ luận tư tưởng không giống nhau. Từ đó dẫn đến sự phân phái là không tránh khỏi.

Thứ tư, sự thay đổi của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời. Đây là nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn đến sự phân phái của Phật giáo. Sở dĩ như vậy vì bao giờ tồn tại xã hội cũng quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Mỗi khi tồn tại xã hội thay đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội sớm muộn cũng sẽ biến đổi theo, đây là một quy luật tất yếu khách quan. Xã hội Ấn Độ mặc dù trì trệ, chậm chạp do bị kìm hãm bởi chế độ công xã nông thôn dựa trên mối liên hệ có tính chất gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và thủ công nghiệp, với các đơn vị dân cư nhỏ bé được tổ chức độc lập khép kín cả về kinh tế và chính trị.

Tuy nhiên, không phải vì như vậy mà cuộc sống xã hội hoàn toàn lắng lại, không thay đổi mà trái lại nó vẫn biến đổi một cách từ từ. Khi cuộc sống thay đổi, Phật giáo muốn tồn tại cũng phải thay đổi theo để thích nghi với hoàn cảnh mới. Trong điều kiện ấy, Phật giáo vừa phát triển lại vừa có sự phân chia thành những bộ phái khác nhau.

2. Bốn kỳ kết tập kinh điển của Phật giáo

Quá trình phân phái của Phật giáo bắt đầu có mầm mống ngay sau khi Đức Phật nhập niết bàn và gắn liền với bốn thời kỳ kết tập kinh điển.

Kỳ kết tập thứ nhất: Bốn tháng sau khi Ðức Phật nhập niết bàn, tôn giả Ma Ha Ca Diếp (MaHa Kasypa), đệ tử tối cao của Đức Phật thống suất tăng chúng đã triệu tập một hội nghị gồm khoảng 500 đại đệ tử của Phật, ở thành Vương Xá ( Rajagrika) nước Ma Kiệt Đà để giảng tụng những giáo lý mà Ðức Phật đã dạy, kết tập lại giáo pháp qua đó khắc phục những biểu hiện sống tự do vượt ra những giới luật ràng buộc của một số tăng sĩ. Trong hội nghị đầu tiên này, tôn giả Ma Ha Ca Diếp được suy tôn ngồi ghế chủ tọa; tôn giả A Nan, vị đệ tử thường theo Phật nghe nhiều và nhớ lâu, được cử ra tụng lại những lời dạy của Phật, còn Ưu Ba Ly (Upali) là vị đệ tử thông suốt và nghiêm trì giới luật nhất, được cử ra tụng giới luật. Kỳ kết tập đầu tiên này đã diễn ra trong vòng bảy tháng, 500 vị đại đệ tử đã thảo luận công nhận những lời chân thật của Phật và ghi lại. Đây là kỳ kết tập hết sức quan trọng trong lịch sử Phật giáo, bước đầu nó đã hình thành nên cơ cấu tổ chức giáo hội, Luật và Pháp được phân chia rõ ràng. Tuy nhiên, cũng trong kỳ kết tập này đã bắt đầu nhen nhóm hai quan điểm bảo thủ và cách tân. Nếu như Ca Diếp cho rằng không thể thay đổi thêm bớt chút nào trong những lời Phật dạy thì A Nan chủ trương có thể bỏ bớt những điều nhỏ nhặt, không phù hợp.

Kỳ kết tập thứ hai:  Khoảng một trăm năm sau kỳ kết tập thứ nhất, trong các tăng sỹ lại có những quan điểm bất đồng về giới luật. Nhiều tăng sỹ không sống tất cả theo giới luật, theo họ trong giới luật có mười điều được châm chế nên không nhất thiết lúc nào cũng phải giữ đúng theo những điều đó. Để xem xét lại mười điều luật đó và xác định lại giới pháp nhằm ngăn ngừa những điều phi pháp có thể xảy ra nên hội nghị kết tập lần thứ hai được triệu tập. Tuy nhiên, cũng do ý kiến khác nhau nên tăng chúng chia làm hai nhóm, họp riêng ở hai thành Vaisaly và Vajji.

Nhóm tăng sĩ họp ở thành Vaixaly do sự triệu tập của trưởng lão Yasa thọ 165 tuổi, gồm có 12.000 tăng sĩ, nhưng trong số ấy chỉ có 700 vị lão thành mới có quyền biểu  quyết. Hội nghị đã bầu Revala làm chủ tọa và nhất trí biểu quyết: "Không nên sửa đổi cho sai những điều luật của Phật đã truyền dạy mặc dù Ðức Thế Tôn đã có di huấn rằng nếu chư tăng đồng ý cùng nhau là thấy điều luật nào của Như Lai đã chế định là ít quan trọng và không thể thụ trì được nữa, thì được phép sửa chữa". Trong khi ấy đa số tăng sĩ không đồng ý với quyết định trên đã nhóm họp ở thành Vajji họp dưới quyền chủ tọa của đại đức Vajjiputra để kết tập kinh điển gọi là Đại chúng kết tập.

Có thể nói, trọng tâm của kỳ kết tập thứ hai chỉ giải quyết về giới luật mà thôi. Tuy nhiên, sau kỳ kết tập này giáo đoàn Phật giáo đã chia thành hai phái rõ rệt. Phái do Ngài Yasa triệu tập và giữ đúng giới luật của Phật, thì gọi là phái nguyên thủy (Théravadins) hay Thượng tọa bộ theo khuynh hướng bảo thủ. Phái do Ngài Vajjiputra chủ trì chủ trương sửa đổi mười điều luật của Phật thì gọi là phái Tiến thủ, hay là Ðại chúng bộ (Mahasanghikas) theo khuynh hướng cách tân. Sau này trong quá trình phát triển, từ Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ tiếp tục phân liệt thành 20 bộ phái khác nhau.

Kỳ kết tập thứ ba: Khoảng thế kỷ III trước công nguyên, dưới thời vua A Dục, Phật giáo phát triển mạnh mẽ, số người theo đạo đông nhưng với nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy trong đó có nhiều người không thành tâm với đạo, không giữ giới luật, vương vấn với đời, gây nhiều điều bất hòa, phức tạp. Lo lắng trước tiền đồ của Phật giáo, cùng ý muốn truyền bá phật giáo ra nước ngoài, vua A Dục đã triệu tập 1000 vị trưởng lão uyên thâm để kết tập kinh điển tại thành Hoa Thị (Pataliputra). Đại hội diễn ra dưới quyền chủ tọa của đại đức Tích Ha (Mogaliputta Tissa). Sau chín tháng làm việc, đại hội đã hoàn thành việc kết tập kinh điển, ngoài ra còn chỉnh  đốn tăng giới, bài trừ những tăng sĩ phạm trai, phá giới, vô kỷ  luật. Thành công nhất của kỳ kết tập này là việc truyền đạo ra nước ngoài, sau kỳ kết tập đã có 10 nhà truyền giáo đi đến chín nước khác nhau, số tín đồ Phật giáo ở nước ngoài tăng lên nhanh chóng.

Kỳ kết tập thứ tư: Đầu thế kỷ II, vua Ca Nhi Sắc Ca (Kaniska), có tâm hộ pháp chẳng thua gì Vua A Dục thấy giáo nghĩa không thống nhất nên đã triệu tập 500 vị Bồ Tát, 500 vị Tỳ kheo cùng 500 người tại gia cư sĩ, tại thành Ca Thập DiLa để kết tập kinh điển dưới quyền chủ tọa của hai vị Hiếp Tôn Giả và Thế Hữu. Đại hội kỳ này không thêm kinh sách mới mà thực chất duyệt lại, chú thích các Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng khắc vào bảng đồng.

Trong bốn kỳ kết tập này thì hai kỳ đầu chưa có sự ghi chép mà chỉ tụng lại, xem lời lẽ nào là của Phật đã nói ra, hay xét những ý nghĩa nào là đúng với chánh pháp. Ðến thời kỳ thứ ba và thứ tư mới dùng văn tự để chép thành sách vở. Từ sự ghi chép này, tăng chúng cũng chia làm hai phái: Nam phương thì ghi bằng chữ Pali, Bắc phương thì ghi bằng chữ Phạn.

3. Các bộ phái của Phật giáo

Quá trình phân phái của Phật giáo bắt đầu từ khi Đức Phật nhập niết bàn, kéo dài qua nhiều thế kỷ và hình thành nên các bộ phái. Nếu xét trên phương diện quan điểm về triết lý, giáo pháp và giới luật, Phật giáo chia thành Thượng tọa bộ (Tiểu thừa) và Đại chúng bộ (Đại thừa) còn xét trên phương diện địa lý và văn tự dùng để ghi chép kinh sách thì Phật giáo lại chia thành Nam phương và Bắc phương Phật giáo.

Thượng tọa bộ (Tiểu thừa) và Đại chúng bộ (Đại thừa)

Từ sau kỳ kết tập thứ tư, hai bộ phái này bước vào giai đoạn xung đột gay gắt, sau đó liên tục phân biệt thành nhiều phái khác nhau. Tiểu thừa, tiếng Phạn gọi là Hinayana ví như cỗ xe nhỏ chở được ít người. Đại thừa là Mahayana ví như cỗ xe lớn chở được nhiều người. Thực ra, giữa Tiểu thừa và Đại thừa có nhiều mặt khác nhau về tư tưởng, giáo lý. Nếu Tiểu thừa chủ trương “Ngã không pháp lưu” thì Đại thừa chủ trương “Ngã pháp câu không”. Tiểu thừa cho rằng con người phải tự tu luyện để đạt chính quả, không ai có thể làm thay hoặc trợ giúp còn Đại thừa cho rằng mỗi người giác ngộ cho mình và cho tất cả những người khác. Nói chung, Tiểu thừa muốn gìn giữ, bảo tồn giáo lý, giới pháp nguyên thủy, Đại thừa theo khuynh hướng tiến bộ, cách tân cho phù hợp với thời đại nhằm mở rộng Phật giáo.

Đối với Đại chúng bộ (Đại thừa): Trong khoảng thời gian 100 năm sau khi Đức phật nhập niết bàn, Ðại chúng bộ lần lượt chia ra thành tám bộ phái; nếu tính cả Đại chúng bộ có thể nói Đại chúng bộ gồm 9 bộ phái khác nhau, cụ thể như sau: 1.Đại chúng bộ; 2.Nhất thuyết bộ; 3.Thuyết xuất thế bộ; 4.Kê dận bộ; 4.Ða văn bộ; 5.Thuyết giả bộ; 6.Chế đa sơn bộ; 7.Tây sơn trụ bộ; 8.Bắc sơn trụ bộ. Trong hệ thống Đại chúng bộ đáng chú ý nhất là ba bộ phái: Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ và Thuyết giả bộ. Ba bộ này có nhiều giáo nghĩa đặc sắc so với các bộ phái khác trong hệ thống. Nhất thuyết bộ chủ trương “Tam thế chư pháp, giả danh vô thể”. Thuyết xuất thế bộ đứng trên lập trường phê phán thực tại luận để bàn luận về thực tướng của chư pháp, chủ trương “Tục vong chân thực”. Thuyết giả bộ lại chủ trương các pháp đều có phần giả, phần thật “chân giả tịnh hữu”.

Trong quá trình phát triển, Đại thừa đã phân thành hai tông phái chính là: Trung luận và Du già:

Phái Trung luận được sáng lập vào thế kỷ II bởi Long Thọ Bồ Tát. Nội dung chủ đạo cũng là điểm đáng chú ý nhất của phái này là tư tưởng “trung đạo”. Theo Long Thọ, bản chất của thế giới là “không” đối lập với có. Nhưng “không” không phải là “hư vô” mà là cái tên vượt ra ngoài vòng “có và không”, gọi là “trung đạo”. Cho nên thế giới “Không sinh cũng không diệt; không thường cũng không đoạn; không một cũng không khác; không lại cũng không đi”. Đưa ra quan điểm “bát bất” trên, một mặt Long Thọ muốn chống lại quan điểm thông thường, giả tưởng cho rằng thế giới có sinh, có diệt, có thường có đoạn, có lại có đi. Mặt khác để thuyết minh cho thuyết “trung đạo của mình”. Đây là một quan niệm đánh dấu bước phát triển của triết học Phật giáo về bản thể luận. Phái Trung luận phát triển đến hết thế kỷ VI thì phân thành hai phái: Ứng thành và Tự tục.

Phái Du già (Yoga), do anh em Vô Trước và Thế Thân Bồ Tát sáng lập vào khoảng thế kỷ V, nội dung tư tưởng chính yếu của phái này thể hiện trong tác phẩm “Duy thức luận” của Thế Thân. Theo Thế Thân duy có ý thức – cái tư tưởng là cái có thật, các sự vật hiện tượng đều do thức mà ra. Bản chất thực sự của con người là cái tâm thường tịnh, vắng lặng và vô trụ. Đồng nhất “bản thể tuyệt đối” với “tâm thức” người, theo Thế Thân muốn đạt đến tâm thức tuyệt đối con người phải vượt lên trên nhận thức thông thường, trở về với cái thường tịnh, vắng lặng, vô thức đó là Niết bàn. Quá trình này phải được thực hiện thông qua các phép tu luyện cụ thể để đạt tới trình độ cảm nhận tâm linh trực giác. Đây là một bước ngoặt mới trong triết học Phật giáo.

Vào thế kỷ VII, khi Mật tông giáo hưng thịnh, phái Trung luận và Du già có sự dung hợp với nhau tạo thành phái Du già – Trung quán hay Trung quán – Du già. Mật tông là sự kết hợp giữa Phật giáo Đại thừa, Ấn Độ giáo và tín ngưỡng dân gian, mang tính chất huyền bí, bùa chú.

Đối với Thượng tọa bộ (Tiểu thừa): Thượng tọa bộ ban đầu sống một cách yên ổn trong núi Ca Tháp Di La, giữ khuynh hướng bảo thủ nhưng theo thời gian, cũng phân phái dần. Trong vòng 100 năm sau khi Phật nhập niết bàn, đã phân thành 11 phái sau: 1.Tuyết sơn bộ; 2.Thuyết nhất thiết hữu bộ;  3.Ðộc tử bộ; 4.Pháp thượng bộ; 5. Hiền vũ bộ; 6. Chính lượng bộ; 7.Mật thâm sơn bộ; 8.Hóa địa bộ; 9.Pháp tọa bộ; 10.Ẩm quang bộ; 11.Kinh lượng bộ. Trong hệ thống Thượng tọa bộ, đáng chú ý nhất là phái Hữu bộ. Họ chủ trương giáo nghĩa tùy vào sự tiến triển của giáo lý Phật giáo nguyên thủy, lấy Tạng luận làm căn bản, đó là thuyết “Tam thế thực hữu, pháp thế bằng hữu”.  Một bộ phái quan trọng khác trong hệ thống Thượng tọa bộ là Chính lượng bộ. Chính lượng bộ phát sinh từ Độc tử bộ cùng với Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ và Mật sơn bộ. Các bộ phái này đều lấy Luận tạng làm bản vị, đều kế thừa giáo lý của Độc tử bộ. nhưng giáo nghĩa của Chính lượng bộ trở thành ưu thế. Hữu bộ và Chính lượng bộ là hai bộ phái trọng yếu của Thượng tọa bộ.

Trong quá trình phát triển, Tiểu thừa đã phân chia thành hai tông phái, cụ thể là: Tỳ Bà Sa luận sư và Tăng Ca Lan đa bộ.

Phái Tỳ Bà Sa luận sư cho rằng chỉ có sự vật, hiện tượng nào con người nhận thức được bằng giác quan và lý trí thì mới thực sự tồn tại. Sự vật hiện tượng bao gồm hai loại vĩnh viễn và không vĩnh viễn. Do lấy lý luận làm tôn chỉ nên phái này coi trọng Tạng luận hơn tạng kinh. Đối với những người theo phái này, Đức Phật cũng chỉ là một người bình thường như bao người khác; dù theo họ Đức Phật hơn người ở chỗ là đã giác ngộ thành Phật và tự mình khám phá chân lý mà không phải học ai.
Phái Tăng Ca Lan đa bộ cũng được coi là “Kinh bộ”. Những người theo phái này quan niệm sự vật hiện tượng chỉ là hình ảnh và con người có thể nhận biết chúng bằng lý trí. Họ phân chia vật chất thành hai loại, loại thứ nhất được cấu thành do nhiều pháp, loại thứ hai chỉ có một pháp. Trái với Tỳ Bà Sa luận sư, phái này đề cao Tạng kinh, không nhận Tạng luận bởi theo họ Đức Phật là bậc thánh nhân là đấng đại từ, đại bi.

Nam  phương và Bắc phương Phật Giáo

Căn cứ vào phương diện địa lý và văn tự dùng để ghi chép kinh sách Phật giáo được chia thành Nam phương và Bắc phương Phật giáo. Kinh điển được ghi chép trong kỳ kết tập thứ ba và thứ tư bằng hai loại chữ: chữ Pali và chữ Phạn. Vì vậy nên những nơi dân chúng nói tiếng Pali thì kinh điển bằng Pali được truyền bá, còn những nơi dân chúng nói tiếng Phạn thì kinh điển bằng Phạn văn được truyền tụng. Nếu lấy Trung Ấn Ðộ là cứ điểm, thì những nơi phía Nam Ấn Ðộ lan ra đến Mianma, Thái lan, Lào, Campuchia...đều theo kinh điển Pali, nên Phật giáo nơi đó gọi là Nam phương Phật Giáo. Còn những nơi thuộc Trung Ấn Ðộ, Bắc Ấn Ðộ và lan ra đến Nêpal, Tây Tạng, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản...thì lại căn cứ theo kinh điển chữ Phạn, nên Phật giáo nơi đó được gọi là Bắc phương Phật Giáo.

Nam Phương Phật giáo hay Bắc phương Phật giáo là cách phân chia Phật giáo theo vùng, miền. Tuy nhiên, tùy theo căn cơ, tâm lý và ảnh hưởng văn hóa cùng đời sống của dân chúng có khác nhau giữa Nam và Bắc mà phương pháp tu hành và sự phát huy giáo lý có điểm dị và đồng. Bắc phương phần nhiều thiên về sự phát triển, phóng túng không câu nệ về hình thức nên phần lớn theo Phật giáo Đại thừa. Nam phương thì thủ cựu, trung thành với Phật Giáo nguyên thủy, tôn trọng hình thức nên theo Phật Giáo Tiểu thừa.

Có thể nói, xét tổng quát thì khi đề cập đến sự phân phái của Phật giáo chúng ta cần chú trọng đến sự phân chia thành hai hệ thống là Thượng tọa bộ (Tiểu thừa) và Đại chúng bộ (Đại thừa) còn đối với Nam Phương và Bắc Phương Phật giáo đó chỉ là cách gọi của Phật giáo tại những vùng khác nhau sử dụng văn tự khác nhau để ghi chép kinh điển mà thôi.

Như vậy, trải qua bao biến cố của lịch sử, từ một tôn giáo thống nhất, trong quá trình phát triển của mình, Phật giáo đã phân chia thành nhiều bộ phái khác nhau. Đó là điều tất yếu phù hợp với sự đấu tranh để tồn tại trong điều kiện lịch sử mới và tiến trình phát triển chung của các hệ thống tư tưởng lớn.

Trong quá trình phân phái, học thuyết triết học của Phật giáo ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, số tín đồ Phật giáo không ngừng gia tăng và mở rộng ra nước ngoài, cơ cấu tổ chức giáo hội được hình thành và hoàn thiện dần, trở thành một hệ thống chặt chẽ từ trên xuống dưới. Vì vậy, nếu cho rằng, quá trình Phật giáo phân phái rồi dần mất chỗ đứng tại quê hương Ấn Độ là một bước thụt lùi của thì có lẽ đó là một sự nhìn nhận phiến diện, cần phải thấy rằng quá trình phân phái của Phật giáo đó là quá trình phát triển và thích ứng không ngừng của nó với những hoàn cảnh mới. Về kinh điển, khi Đức Phật tại thế, giáo pháp và giới luật thường được giảng dạy theo lối truyền miệng. Khi Phật nhập niết bàn, kinh điển được trước tác thành văn, hình thành một hệ thống kinh sách đồ sộ với nội dung phong phú, sâu sắc bao gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng gọi là Tam tạng. Về phạm vi ảnh hưởng, Phật giáo tuy mất chỗ đứng tại Ấn Độ nhưng lại lan rộng ra nước ngoài và trở thành tôn giáo thế giới, mang tính quốc tế.

Theo cách nói của nhà Phật thì: “Có sinh thì có diệt, có thành thì có hoại, sau một thời gian dài hưng thịnh, Phật Giáo ở Ấn Ðộ dần dần suy đồi cũng là một sự thường. Luật vô thường chi phối tất cả những sự việc của đời này. Cũng do cái luật biến dịch, chỗ này khuyết thì chỗ kia bồi, làn sóng lặn ở chỗ này để hưng ở chỗ khác. Ðạo Phật đã chuyển đi từ trung tâm điểm là Ấn Ðộ để lan ra, hưng thịnh ở nước khác trước tiên là chung quanh Ấn Ðộ, rồi sang Trung Hoa và dần dần lan ra khắp thế giới”.

Tất cả những điều đó nói lên quá trình phân phái của Phật giáo là quá trình đi lên của tôn giáo này. Tuy nhiên, trong quá trình đó Phật giáo cũng có những hạn chế. Một trong những hạn chế lớn đó là triết học Phật giáo từ một học thuyết tư tưởng duy vật, vô thần nguyên thủy trở thành một hệ thống triết học duy tâm chủ quan – duy ngã. Mặt khác với khuynh hướng tôn thờ Phật Tổ, Bồ Tát, các vị thánh thần của nhiều bộ phái, phần nào đã làm lu mờ đi vẻ trong sáng, tính nhân bản, nhân văn của hệ thống triết học Phật giáo vốn là học thuyết đạo đức nhân sinh, xuất phát từ con người và hướng đến phục vụ con người.

Nguyễn Quỳnh Anh

Nguồn: http://tongiaovadantoc.com/c1044/20110829200406949/qua-trinh-phat-trien-va-phan-phai-cua-phat-giao-an-do-nguyen-quynh-anh.htm

Nguồn:

Cùng chuyên mục