Thế lưỡng nan chiến lược của Ấn Độ: Không có lựa chọn nào khác
Những va chạm dưới thời Trump 2.0 cho thấy quan hệ Ấn Độ - Mỹ chứa đựng nhiều bất định. Tuy nhiên, trong cấu trúc quyền lực châu Á hiện nay, New Delhi vẫn buộc phải dựa vào Washington như một trụ cột chiến lược chủ yếu để đối trọng Trung Quốc.
Trong quan hệ quốc tế đương đại, lựa chọn chiến lược của các cường quốc tầm trung thường không được quyết định bởi thiện cảm chính trị nhất thời, mà bởi cấu trúc quyền lực dài hạn. Trường hợp Ấn Độ là một minh chứng điển hình. Dù Tổng thống Donald Trump đã gây ra không ít phiền toái cho New Delhi bằng chính sách thuế quan, phát ngôn gây tranh cãi về vai trò trung gian trong xung đột Ấn Độ - Pakistan, hay những động thái làm tổn thương lòng tự tôn dân tộc Ấn Độ, quan hệ Ấn - Mỹ vẫn không đổ vỡ. Lý do sâu xa nằm ở chỗ Ấn Độ không có nhiều lựa chọn thay thế thực sự khả thi để đối trọng Trung Quốc.
Điểm mấu chốt đầu tiên là tương quan sức mạnh giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã thay đổi căn bản trong vài thập niên gần đây. Nếu như trong giai đoạn giữa thế kỷ XX, hai nước còn tương đối ngang bằng về quy mô và tiềm lực, thì từ giữa thập niên 1990, kinh tế Trung Quốc đã vượt Ấn Độ và khoảng cách ấy tiếp tục nới rộng. Không chỉ mạnh hơn về sản lượng kinh tế, Trung Quốc còn chuyển hóa lợi thế kinh tế thành sức mạnh quân sự với tốc độ đáng lo ngại. Trong bối cảnh đó, mối quan tâm chiến lược số một của Ấn Độ không phải là cạnh tranh với các cường quốc xa xôi, mà là xử lý thách thức hiện hữu từ một Trung Quốc ngày càng quyết đoán ở biên giới lẫn trên các không gian biển - không gian công nghệ - không gian ảnh hưởng khu vực.
Từ góc nhìn này, sự xích lại gần nhau giữa New Delhi và Washington không phải là một lựa chọn tùy hứng, mà là hệ quả của nhu cầu cân bằng quyền lực. Chính phủ Ấn Độ từ Vajpayee đến Manmohan Singh rồi Narendra Modi với các màu sắc ý thức hệ khác nhau, nhưng mẫu số chung vẫn là thừa nhận rằng Ấn Độ cần một đối tác bên ngoài đủ mạnh để hỗ trợ trong bài toán Trung Quốc. Chính vì vậy, dù Ấn Độ theo đuổi tự chủ chiến lược, tự chủ không đồng nghĩa với cô lập. Trái lại, tự chủ của Ấn Độ ngày càng mang hình thức “tự chủ trong phụ thuộc có tính toán”, tức là mở rộng mạng lưới đối tác để giảm lệ thuộc đơn tuyến, nhưng vẫn cần một điểm tựa chính yếu để giữ thế cân bằng.
Sự bất ổn trong nhiệm kỳ Trump chỉ làm rõ hơn nghịch lý ấy. Việc Mỹ áp thuế lên hàng hóa Ấn Độ, thổi phồng vai trò “hòa giải” trong khủng hoảng Ấn Độ - Pakistan, hoặc tiếp đón công khai giới tướng lĩnh Pakistan đã khiến dư luận Ấn Độ phẫn nộ. Tuy vậy, phản ứng của New Delhi vẫn khá kiềm chế. Điều này phản ánh một thực tế cơ bản rằng Ấn Độ có thể không hài lòng với cách hành xử của Washington, nhưng không dễ thay thế Washington. Trong chính trị quyền lực, sự khó chịu ngoại giao vẫn phải nhường chỗ cho tính toán chiến lược.
Có thể lập luận rằng Ấn Độ còn một số phương án thay thế khác, nhưng khi phân tích kỹ, các phương án ấy đều bộc lộ giới hạn. Nga là trường hợp đầu tiên thường được nêu ra. Trong thời Chiến tranh Lạnh, Moscow từng là đối tác quan trọng của New Delhi, và đến nay vẫn giữ vai trò nguồn cung vũ khí đáng kể. Tuy nhiên, một nước Nga không còn như xưa, đang dồn hết tâm sức vào cuộc chiến ở Ukraine và ngày càng gần gũi Trung Quốc khó có thể là chỗ dựa chiến lược thay thế cho Mỹ. Nga không còn sở hữu lợi thế công nghệ quân sự mà Ấn Độ cần để đối phó với không quân và công nghiệp quốc phòng Trung Quốc. Nói cách khác, Nga vẫn là đối tác hữu ích, nhưng không phải là “đáp án” cho bài toán Trung Quốc.
Một lựa chọn khác là hợp tác sâu hơn với các cường quốc Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương như Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc hay Indonesia. Về nguyên tắc, đây là một hướng đi hợp lý, bởi các nước này cùng chia sẻ nỗi lo trước sức ép ngày càng tăng của Trung Quốc. Tuy nhiên, liên kết khu vực này vẫn chưa đủ để trở thành một đối trọng toàn diện. Lý do trước hết là khác biệt về lợi ích an ninh, Ấn Độ lo ngại biên giới đất liền với Trung Quốc, Nhật Bản tập trung vào không gian biển và quần đảo tranh chấp, còn Australia lo vấn đề tuyến hàng hải và sức ép kinh tế. Lý do thứ hai là ngay cả khi cộng gộp sức mạnh kinh tế và quân sự của các đối tác này, họ vẫn chưa thể sánh với Trung Quốc về quy mô. Vì thế, các cơ chế như Quad hay AUKUS giúp tăng cường năng lực phối hợp, nhưng chưa đủ để thay thế vai trò của Mỹ trong cấu trúc cân bằng.
Chính vì vậy, lựa chọn nghiêm túc nhất của New Delhi vẫn là duy trì quan hệ với Washington, đồng thời cố gắng đa dạng hóa các kênh đối ngoại để tránh lệ thuộc quá mức. Đây là logic của một cường quốc đang lên nhưng chưa đủ mạnh để tự đứng một mình trước một đối thủ vượt trội. Trong hoàn cảnh ấy, chiến lược tối ưu không phải là tuyệt đối hóa chủ quyền bằng cách từ chối mọi liên kết, mà là sử dụng các liên kết như công cụ để bảo vệ chủ quyền.
Dĩ nhiên, bài toán này không hoàn toàn ổn định. Nếu trong tương lai nội bộ nước Mỹ khiến Washington giảm cam kết với châu Á, hoặc nếu Mỹ thay đổi ưu tiên chiến lược theo hướng thỏa hiệp với Bắc Kinh, Ấn Độ sẽ phải đối mặt với một môi trường an ninh khó khăn hơn nhiều. Nhưng trong hiện tại, điều đó vẫn là khả năng xa. Từ góc độ của New Delhi, Mỹ vẫn là cường quốc duy nhất đủ lớn, đủ gần và đủ lợi ích để có thể giúp cân bằng Trung Quốc. Bởi vậy, dù có nhiều bực bội, Ấn Độ cuối cùng vẫn phải “nuốt tự ái” vì lợi ích chiến lược dài hạn.
Tóm lại, quan hệ Ấn Độ - Mỹ không nên được nhìn như một quan hệ êm đẹp hay không mâu thuẫn. Đó là một quan hệ được neo giữ bởi nhu cầu quyền lực, chứ không phải bởi sự đồng điệu hoàn toàn. Trong một châu Á đang tái cấu trúc dưới áp lực từ Trung Quốc, New Delhi vẫn chưa tìm ra phương án thay thế nào đủ sức thay Washington. Và chừng nào điều đó còn đúng, Ấn Độ sẽ tiếp tục coi Mỹ là lựa chọn chiến lược khó chịu nhưng cần thiết nhất.
- Share
- Copy
- Comment( 0 )
Cùng chuyên mục
Tái định vị chiến lược hàng hải của Ấn Độ
Tư liệu Nghiên cứu Ấn Độ 10:00 09-06-2026
Myanmar trong tính toán chiến lược của Ấn Độ
Tư liệu Nghiên cứu Ấn Độ 09:00 03-06-2026