Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Cuộc cách mạng hạt nhân của Ấn Độ: Kỷ niệm 25 năm sự kiện Pokhran

Cuộc cách mạng hạt nhân của Ấn Độ: Kỷ niệm 25 năm sự kiện Pokhran

04:00 15-05-2023 Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Vào ngày 11 tháng 5 năm 1998, Ấn Độ tuyên bố mình là một quốc gia có vũ khí hạt nhân bằng cách tiến hành một loạt vụ thử vũ khí hạt nhân ở sa mạc Thar. Dưới thời Nehru và Homi Bhabha, Ấn Độ đã đặt nền móng cho một chương trình khoa học hạt nhân công phu vào năm 1948, chỉ một năm sau khi giành được độc lập. Thủ tướng Indira Gandhi đã tiến hành một vụ thử hạt nhân hòa bình vào tháng 5 năm 1974. Tuy nhiên, Ấn Độ đã mất gần 5 thập kỷ để ở hữu vũ khí hạt nhân. Không có quốc gia nào khác trong lịch sử thời đại hạt nhân có thời gian thai nghén chế tạo vũ khí hạt nhân lâu như vậy.

Sự kiên nhẫn của Ấn Độ đối với lựa chọn hạt nhân cũng không dẫn đến bất kỳ lợi ích vật chất hay ngoại giao nào. Những người bảo vệ trật tự hạt nhân toàn cầu - chủ yếu là các nước phương Tây do Mỹ dẫn đầu - vẫn nghi ngờ về ý đồ hạt nhân của Ấn Độ, dẫn đến các biện pháp trừng phạt công nghệ nặng nề đối với các ngành công nghiệp hạt nhân và quốc phòng của nước này. Nó cũng thất bại trong việc hạn chế các chương trình hạt nhân của các đối thủ. Trong những năm 1960, Trung Quốc được coi là quốc gia có vũ khí hạt nhân trong hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân; trong những năm 1970 và 1980, Pakistan đã phát triển chương trình vũ khí hạt nhân của mình bằng cách đánh cắp công nghệ và vật liệu từ phương Tây. Trung Quốc cũng tiếp tay cho chương trình hạt nhân của Pakistan.

Dưới áp lực này, Thủ tướng Rajiv Gandhi đã ra lệnh vũ khí hóa khả năng răn đe hạt nhân của Ấn Độ vào năm 1989. Tuy nhiên, New Delhi đã không chuẩn bị sẵn sàng để chấp nhận hoàn toàn vị thế hạt nhân của mình, do chính sách ngoại giao giải trừ hạt nhân đã tồn tại hàng thập kỷ. Sự mơ hồ về hạt nhân của Ấn Độ chỉ tượng trưng cho sự do dự của nước này trong việc cư xử như một quốc gia bình thường trong chính trị quốc tế: một quốc gia thừa nhận quyền lực và lợi ích là động lực cơ bản của chính sách đối ngoại và an ninh của quốc gia. Các vụ thử vũ khí hạt nhân năm 1998 đã giải phóng Ấn Độ khỏi chủ nghĩa lý tưởng trong quan hệ quốc tế.

Việc tự thừa nhận một cách rõ ràng về tình trạng vũ khí hạt nhân của Ấn Độ trước tiên đã giúp phá vỡ quán tính của chủ nghĩa lý tưởng trong chính sách đối ngoại và những ràng buộc tâm lý do chương trình vũ khí hạt nhân bí mật của nước này áp đặt. Ấn Độ hiện đã sẵn sàng tham gia với thế giới với tư cách là một quốc gia có vũ khí hạt nhân, ngay cả khi thế giới có thể từ chối đối xử với Ấn Độ theo cách như vậy.

Thứ hai, các vụ thử hạt nhân là "trong hoạ có phúc" cho quan hệ Ấn Độ-Mỹ, mối quan hệ song phương quan trọng nhất của hai bên. Nếu sự mơ hồ về hạt nhân của Ấn Độ làm dấy lên hy vọng ở Washington DC rằng, New Delhi cuối cùng sẽ đồng ý với chương trình nghị sự không phổ biến vũ khí hạt nhân của mình, thì New Delhi coi việc vận động không phổ biến vũ khí hạt nhân của Mỹ là rào cản đáng kể trong quá trình trỗi dậy của nước này trong trật tự toàn cầu. Các cuộc thử nghiệm đã giải phóng Ấn Độ khỏi những hạn chế tự áp đặt và cho phép Mỹ vượt ra khỏi chương trình nghị sự không phổ biến vũ khí hạt nhân.

Do đó, không phải vô cớ mà trong vòng một thập kỷ sau vụ thử vũ khí hạt nhân năm 1998, Ấn Độ đã đạt được ba mục tiêu ngoại giao chính. Trong Chiến tranh Kargil, hành vi hạt nhân có trách nhiệm và kiềm chế của Ấn Độ đã đặt nền móng cho quan hệ đối tác chiến lược Ấn Độ-Mỹ và tách Ấn Độ khỏi Pakistan trong chính sách Nam Á của Mỹ. Thứ hai, sự trỗi dậy của Ấn Độ với tư cách là một cường quốc kinh tế và quân sự đã nâng cao tầm vóc của nước này với tư cách là một cường quốc châu Á, ngang hàng với Trung Quốc. Thậm chí ngày nay, trong số tất cả các đồng minh và đối tác chiến lược của Mỹ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, chỉ có Ấn Độ là cường quốc vũ khí hạt nhân. Thứ ba, thỏa thuận hạt nhân dân sự Ấn-Mỹ năm 2008 đã công nhận Ấn Độ là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân trên thực tế.

New Delhi cũng phải đối mặt với một số thách thức đáng kể khi nước này kỷ niệm 25 năm tuyên bố hạt nhân. Hành vi hạt nhân có trách nhiệm của Ấn Độ được xây dựng trên cơ sở kiềm chế hạt nhân của nước này. Sự kiềm chế này có thể nhìn thấy trong cả chiến lược hạt nhân và sự phát triển kho vũ khí hạt nhân.

Học thuyết không sử dụng trước và trả đũa trên quy mô lớn, định hướng cho lực lượng răn đe hạt nhân của Ấn Độ, đã thất bại trong việc gây ấn tượng với việc Pakistan sử dụng chiến tranh phụ quy ước dưới bóng kho vũ khí hạt nhân của nước này. Việc liên tục kêu gọi trao đổi hạt nhân cũng buộc Ấn Độ phải ở trong vỏ bọc, không thể đáp trả nhiều hành động khiêu khích của Pakistan, dù là vụ tấn công toà nhà nghị viện năm 2001 hay vụ tấn công Mumbai năm 2008. Sự bất đối xứng ngày càng tăng về sức mạnh quân sự ở biên giới Himalaya với Trung Quốc cũng đã khiến một số người trong cộng đồng chiến lược của Ấn Độ đề nghị từ bỏ học thuyết không tấn công trước.

Thứ hai, ngay cả khi Ấn Độ đã đạt được những bước tiến nhanh chóng trong việc phát triển bộ ba phương tiện mang đầu đạn hạt nhân, thì sự phát triển công nghệ của lực lượng hạt nhân của nước này vẫn chưa cung cấp cho nước này khả năng tấn công lần thứ hai đáng tin cậy trước Trung Quốc.

Thay đổi học thuyết để sử dụng vũ khí hạt nhân trước sẽ không giải quyết được tình trạng khó khăn của Ấn Độ với Pakistan và Trung Quốc. Vũ khí hạt nhân sẽ không mang lại bất kỳ lợi thế chiến thuật hay chiến lược nào ở biên giới đối với Trung Quốc. Bất kỳ việc sử dụng vũ khí hạt nhân nào ở vùng núi sẽ không chỉ rất nguy hiểm, vì Ấn Độ là một quốc gia ven sông thấp hơn mà sẽ gây ra phản ứng chiến lược từ Trung Quốc, một cường quốc hạt nhân có năng lực hơn. Hơn nữa, khả năng dự phòng quân sự giữa Ấn Độ và Trung Quốc hầu hết sẽ bị hạn chế trong các hoạt động vùng xám hoặc chiến tranh hạn chế. Câu trả lời duy nhất là tăng cường lực lượng quân sự thông thường của Ấn Độ ở biên giới để tăng chi phí cho chủ nghĩa cơ hội của Trung Quốc.

Đối với Pakistan, Ấn Độ nên sẵn sàng hơn trong việc sử dụng các lựa chọn quân sự thông thường và lên án thanh thế hạt nhân khoa trương của Pakistan. Kể từ vụ thử vũ khí hạt nhân năm 1998 ở Nam Á, sự kiềm chế quân sự của Ấn Độ một phần xuất phát từ lo ngại về một cuộc khủng hoảng quân sự thông thường leo thang thành một cuộc khủng hoảng hạt nhân. Các cuộc tấn công chiến thuật năm 2016 và các cuộc tấn công Balakot đã đưa ra đủ bằng chứng thực nghiệm để phá vỡ niềm tin phổ biến rằng, thậm chí sự tham gia quân sự hạn chế ở Nam Á cuối cùng sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân.

Cuối cùng, ngay cả sau 25 năm từ sự kiện Pokhran, Ấn Độ vẫn đang xây dựng khả năng tấn công thứ hai đáng tin cậy đối với Trung Quốc. Việc triển khai Agni-V, tên lửa đạn đạo xuyên lục địa đầu tiên của Ấn Độ, là một sự nâng cấp đáng kể về độ tin cậy của khả năng răn đe hạt nhân của nước này. Tuy nhiên, nhánh thứ ba của lực lượng hạt nhân – hạm đội SSBN – vẫn chưa hoàn thiện: các tàu này không đủ sức mạnh và thiếu vũ khí. Cho đến khi và trừ khi Ấn Độ phát triển, thể hiện và triển khai khả năng nhắm mục tiêu vào hầu hết lãnh thổ Trung Quốc thông qua SSBN, có thể hoạt động an toàn ở Nam Ấn Độ Dương và phóng ICBM phóng từ tàu ngầm nhắm vào toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, khả năng tấn công thứ hai của Ấn Độ sẽ không đáng tin cậy. Việc Trung Quốc hiện đại hóa lực lượng hạt nhân sẽ chỉ làm tăng thêm nhu cầu cấp thiết của Ấn Độ.

Cùng với những cải cách kinh tế năm 1991, các vụ thử vũ khí hạt nhân năm 1998 đã mở đường cho Ấn Độ vươn lên thành một cường quốc toàn cầu. Những lợi ích ngoại giao của Ấn Độ là đáng kể. Tuy nhiên, nhu cầu dung nạp cuộc cách mạng hạt nhân trong chiến lược quân sự của mình vẫn đang được tiến hành.

 

Nguồn:

CIS

Cùng chuyên mục